Posts Tagged ‘History’
Nguồn gốc lễ Noel, cây Sapin và Ông già Noel!
Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 24, 2007
Đăng trong Lịch sử | Tagged: History, noel | Leave a Comment »
10 phát minh vĩ đại nhất của người Hồi giáo
Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007
1. Cà phê
Chuyện kể rằng khi đang chăm nom đàn dê của mình ở vùng Kaffa, phía nam Ethiopia, một người Ảrập tên là Khalid phát hiện ra rằng những con dê có vẻ linh hoạt hơn hẳn sau khi ăn một thứ quả mọng. Khalid thử đun quả này lên để lấy nước uống, và đó chính là cốc cà phê đầu tiên trên thế giới.
2. Cờ vua
Sơ khởi, thời Ấn Độ cổ đại người ta đã phát minh ra một dạng cờ với 64 ô, gắn với truyền thuyết nổi tiếng về ông vua hào phóng ban thưởng cho người phát minh ra nó mỗi ô số hạt thóc gấp đôi số hạt thóc ở ô trước. Nhưng sau đó đến Ba Tư (Iran) trò này mới được phát triển thành dạng cờ vua như ngày nay và nhanh chóng phổ biến sang Tây Âu và cả các nước châu Á như Nhật Bản.
3. Dù
Một nghìn năm trước khi anh em nhà Wright người Mỹ phát minh ra máy bay, một nhà thơ, nhà thiên văn học, nhạc sỹ, nhà thiết kế người Hồi giáo tên là Abbas ibn Firnas đã nhiều lần thử chế tạo một cỗ máy biết bay. Năm 852, với hy vọng có thể bay như chim, ông này đã nhảy từ tháp Grand Mosque ở Cordoba với một chiếc áo choàng mềm được gia cố bằng khung gỗ, nhưng thất bại. Tuy nhiên, chính tấm áo choàng đã giúp giảm tốc độ rơi nên ông chỉ bị thương nhẹ và may mắn thoát chết. Đây được coi và cuộc nhảy dù đầu tiên của nhân loại. Hiện nay sân bay quốc tế Baghdad ở Iraq và một miệng núi lửa trên mặt trăng mang tên ông.
4. Dầu gội đầu
Có thể do tắm gội là quy định tôn giáo bắt buộc của người Hồi giáo nên chính họ là người đã hoàn thiện công thức chế tạo xà phòng mà đến nay chúng ta vẫn đang sử dụng. Trước đó, người Ai Cập cổ đại đã dùng xà phòng, người La Mã cũng dùng xà phòng như một loại sáp thơm. Nhưng chính những người Ảrập mới biết kết hợp dầu thực vật với chất xút và hương liệu để làm ra xà phòng.
5. Áo giáp kim loại
May chần là phương pháp khâu hoặc may hai lớp vải với một lớp lót ở giữa. Hiện vẫn chưa rõ đây có phải là phát minh của thế giới Hồi giáo không, hay du nhập từ Ấn Độ hoặc Trung Hoa. Nhưng có một điều chắc chắn là nó do quân thập tự chinh mang sang phương Tây. Người ta đã thấy các chiến binh Saracen mặc áo bạt độn rơm thay cho áo giáp, vừa để bảo vệ, vừa giữ ấm.
6. Phẫu thuật
Nhiều dụng cụ phẫu thuật hiện đại có cùng thiết kế với các dụng cụ do một nhà phẫu thuật người Hồi giáo tên là al-Zahrawi phát minh ra từ thế kỷ thứ 10. Có thể dễ dàng nhận thấy trong các dụng cụ phẫu thuật hiện đại kiểu dáng của chiếc dao mổ, cưa xương, kẹp forcep, kéo nhỏ dùng trong phẫu thuật mắt và nhiều trong số 200 dụng cụ khác do ông phát minh. Al-Zahrawi cũng chính là người phát minh ra chỉ ruột mèo có tính năng tự tiêu và có thể dùng làm vỏ thuốc con nhộng.
300 năm trước khi nhà khoa học William Harvey người Anh phát hiện ra sự tuần hoàn máu, vào thế kỷ 13, một bác sĩ người Hồi giáo khác tên là Ibn Nafis đã mô tả quá trình tuần hoàn máu. Cũng chính các bác sĩ người Hồi giáo đã tìm ra phương pháp gây mê bằng hỗ hợp rượu và thuốc phiện, cũng như đã chế tạo ra kim rỗng ruột để hút chất nhầy từ mắt. Phương pháp này còn được áp dụng đến tận ngày nay.
7. Xúp
Vào thế kỷ 9, ông Ali ibn Nafi, thường được biết đến với tên Ziryab (Hắc điểu), đã đi từ Iraq sang Cordoba, mang theo khái niệm về một bữa ăn gồm ba món, bắt đầu với xúp (món khai vị), sau đó đến cá hoặc thịt và cuối cùng là hoa quả hoặc các loại quả hạch (tráng miệng).
8. Thanh toán bằng séc
Séc (Cheque) hiện đại xuất phát từ saqq – tờ giấy cam kết trả tiền mà người Ảrập dùng để thanh toán khi giao nhận hàng hóa, nhằm tránh phải chuyển tiền qua những nơi nguy hiểm. Ngay từ thế kỷ thứ 9, các thương gia Hồi giáo đã có thể dùng séc ở Trung Quốc để rút tiền từ ngân hàng ở Baghdad (Iraq).
9. Hỏa tiễn và ngư lôi
Mặc dù người Trung Hoa phát minh ra thuốc súng và dùng làm pháo hoa, nhưng người Ảrập mới chính là người nghĩ ra cách tinh chế thuốc súng để phục vụ quân đội. Các thiết bị gây cháy của người Hồi giáo đã khiến quân thập tự chinh phải khiếp sợ. Vào thế kỷ 15, họ đã phát minh ra cả hỏa tiễn và ngư lôi.
10. Cối xay gió
Mùa khô tại các vùng sa mạc rộng lớn ở Ảrập chỉ có một thứ năng lượng duy nhất là gió, thổi ổn định theo một hướng trong nhiều tháng. Do đó vào năm 634, người Hồi giáo đã phát minh ra cối xay gió để xay ngô và thoát nước. Cối xay gió có 6 hoặc 12 cánh phủ vải hay lá cọ. Loại cối xay gió này đã có từ 500 năm trước khi xuất hiện lần đầu ở châu Âu.
Theo Dân Trí
Đăng trong Lịch sử | Tagged: History | Leave a Comment »
Nguồn gốc ông già Noel
Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007
Có ai chưa từng nghe nói về ông già tươi tắn, râu trắng, trong trang phục màu đỏ mà trẻ em khắp nơi thường chờ đợi vào đêm từ 24/12 sang ngày 25/12? Ông đã trở thành biểu tượng quen thuộc của những lễ hội năm mới đến nỗi chúng ta thậm chí cũng chẳng nghĩ xem từ đâu lại có ông già này.
Ai là ai?
Thánh Nicolai được coi là nguyên mẫu của ông già Noel hiện đại. Ông ra đời trong thế kỷ thứ III ở Likii (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay).
Ngay từ nhỏ ông đã giúp đỡ người nghèo khó và khi đã trở thành tổng giám mục ông vẫn tiếp tục cứu giúp người hoạn nạn. Truyền thuyết kể rằng ông vẫn cho tiền người nghèo qua khe hở thông gió của các gia đình.
Ở nước Đức cho đến tận bây giờ, vào ngày 6/12 người ta thường tổ chức lễ hội “Nicolaustag”- Ngày của thánh Nicolai.
Trong thế kỷ XVI ở Đức và Hà Lan diễn ra cuộc cách mạng Liuteran. Cuộc cách mạng này huỷ bỏ việc tôn sùng thần thánh, trong đó có cả ngày tưởng nhớ thánh Nicolai.
Những người theo đạo Tin Lành công khai đốt hình ảnh của ông và cấm tặng quà cho trẻ em. Nhưng việc cấm đoán này cũng không ngăn cản được mọi người. Họ tiếp tục bí mật tưởng nhớ đến vị thánh, gọi chệch tên Saint Nikholas thành Sinter Klaas.
Người Hà Lan di cư đã mang sang Mỹ cái tên này và người Mỹ đã sửa lại theo kiểu của mình- Santa Klaus. Hình ảnh của Santa Klaus mà chúng ta được biết là do Kliment Klarc Mur nghĩ ra trong năm 1822.
Trong bài trường ca “The night before Christmas” ông đã miêu tả Santa ở lứa tuổi trung niên và rất vui tính. Nhà văn đã nghĩ ra cả cách xuất hiện của ông trong mỗi nhà- qua ống khói.
Ông già Noel ở Nga
Đón Năm mới vào ngày 1/1 chỉ được bắt đầu từ năm 1699 theo lệnh của Sa hoàng Đại đế. Trước đó việc bắt đầu năm mới chỉ được tính vào ngày 1/9 khi việc thu hoạch mùa màng, một việc quan trọng đối với nhà nông, đã kết thúc.
Nhưng từ đâu lại có nhân vật chính của ngày lễ này? Để tìm hiểu rõ vấn đề này, chúng ta chỉ cần nhớ lại các câu chuyện cổ tích mà các bậc cha mẹ vẫn thường đọc cho con mình nghe hàng đêm là đủ.
Những nhân vật chính của các câu chuyện này là ông già Morozco, Tresknun, ông già mũi đỏ…Từ đó xuất hiện ông già phúc hậu râu dài, mặc áo đỏ, mũ đỏ với bao quà trên vai.
Những hoạ sĩ và các nhà làm phim Liên Xô đã dựng lên hình ảnh, đã quen thuộc với chúng ta, với dụng ý so sánh ông già Noel với Santa Klaus của Mỹ- ông già đã trở nên phổ biến ở châu Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Ông già Noel và Santa klaus khác nhau ở chỗ nào?
Tất nhiên, ông già Noel khác Santa Klaus ở ngoại hình và cách thức xuất hiện trong mỗi gia đình. Chẳng hạn, ông già Noel mặc áo khoác lông thú dài đến gót chân. Áo có đính những ngôi sao có 8 cánh ánh bạc. Ông mang dây lưng màu trắng có hoa văn màu đỏ. Còn Santa Klaus mang áo khoác lông ngắn, dây lưng màu đen có khoá nịt.
Ông già Noel đi đôi ủng dạ- có đôi ủng này chẳng còn sợ gì băng tuyết trong rừng nữa. Santa Klaus đi giày ống. Ông già Nô el đi xe tam mã, có chiếc gậy bạc và luôn đi cùng cô cháu gái – nàng Bạch Tuyết.
Santa Klaus đeo kính, bay trên những con tuần lộc. Ông hay đi một mình hoặc cùng với những con quỉ lùn.
Đăng trong Lịch sử | Tagged: History | Leave a Comment »
“Cuộc hành trình” của chiếc mũ
Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007

Thật khó có để tìm ra thứ phụ trang nào để so sánh với sự đa năng của chiếc mũ. Nó vừa giúp che nắng, mưa, vừa giúp cho quý bà làm điệu và kiêm luôn “nhiệm vụ” tạo nên vẻ lịch lãm của quý ông. Chính vì vậy mà chiếc mũ luôn là nguồn cảm hứng cho vô số trào lưu của thời trang.
Thuở khai sinh, những bộ lạc thổ dân châu Phi thường có thói quen hái lá cây to quấn quanh đầu làm mũ. Sau này, với chiến tích săn bắn được như da hổ, báo, trăn… họ đã biết mang phơi khô để làm nên những chiếc mũ thật bền, có thể làm vật thừa kế cha truyền con nối. Dĩ nhiên, những thổ dân hồi đó chẳng thể nào tưởng tượng được, chính da thú là nguyên nhân của nhiều cuộc đổ máu sau này hòng tranh giành một “chất liệu vàng” cho những kiểu mũ đắt đỏ phục vụ cho một thế giới văn minh khác, sống rất xa những thảm rừng sâu hun hút và những khúc sông đầy cá sấu, thuồng luồng.
Hình ảnh về chiếc mũ đầu tiên được phát hiện trên một ngôi mộ cổ ở vùng sông Thebes vẽ một nam nô lệ đội chiếc mũ hình ống cao. Còn chiếc mũ cho phái đẹp rất có thể được khơi nguồn từ cái nón đội đầu của người phụ nữ Ai Cập. Được biến tấu dưới trang phục Pileus trùm kín từ đầu đến chân của người La Mã, chiếc mũ này thật ra chỉ là những tấm voan hay khăn mỏng quấn tròn quanh mái tóc. Nhưng nếu không có cách làm duyên rất sơ khai này, chắc chắn cái gọi là kỷ nguyên của thời trang mũ không thể ra đời.
Đến cuối thế kỷ 16, khi ruy băng và găng tay trở thành vật bất ly thân của phái đẹp thì những chiếc mũ cũng nghiễm nhiên bứt phá để trở thành một thứ phụ kiện thời trang độc lập. Nước Ý, có lẽ là quê hương đầu tiên của những kiểu mũ vải thời trang. Năm 1529, bộ sưu tập mũ vải đầu tiên ở Milan đã khiến cho toàn bộ phái đẹp của thành Roma… thèm muốn.
Và từ đó, những chiếc mũ thoát hẳn khỏi chức phận che mưa nắng để tha hồ mà làm duyên. Đầu thế kỷ 19, người ta bắt đầu làm quen dần với dạng mũ “đúc” từ những chất liệu nghe rất lạ tai như giấy các – tông, cỏ và thậm chí là lông ngựa mềm mà ý tưởng xuất phát từ chính người Ý và Thụy Sỹ.
Sau đó, mũ tạo thêm cú đột phá khi biến mình thành “kẻ hào hoa” trong những chất liệu xa xỉ như nhung và satin. Nửa đầu thế kỷ 19, đường phố khắp nơi từ London, Paris, Milan kéo dài sang New York, mũ thời trang dành riêng cho phái đẹp thỏa sức dập dìu.
Các quý bà, quý cô luôn xuất hiện ở những chỗ đông người với kiểu mũ lộng lẫy gắn thêm nơ, bông hoa và cả lông vũ trên thành chóp. Người ta ví von hài hước rằng, có thể ăn được cả một bữa tiệc trên đầu của một quý bà tham lam – ám chỉ chiếc mũ đỏm dáng của chủ nhân có quá nhiều chi tiết hoa lá, trái cây rườm rà.
Ngay cả binh đao cũng không ngăn cản được chuyện làm đỏm của những chiếc mũ. Trong suốt Thế chiến thứ nhất, mũ vẫn không ngừng thay hình đổi dạng để chiều chuộng, để thích nghi với các kiểu tóc của phái đẹp. Thay vì để những lọn tóc bồng bềnh nhằm diện kiểu mũ rộng vành, phụ nữ thời kỳ này mạnh mẽ và “ngạo nghễ” hơn với mái tóc cắt ngắn, gần như sát đầu giống đàn ông. Vì thế, kiểu dáng mũ từ từ thu nhỏ lại để ôm vừa khít chiếc đầu thon gọn của những người đẹp. Và thế là vô tình mũ tạo nên một trào lưu thời trang hơn.
Nhưng cuộc can qua cũng có lúc thắng thế. Khi thế giới lâm vào cuộc đại chiến thứ hai, đã có lúc mũ cũng như người phụ nữ mệt mỏi vì bom đạn, chẳng còn muốn nghĩ đến việc thay đổi chính mình nữa. Hậu quả là có một thời gian, thời trang mũ cứ dậm chân một chỗ.
Khi thế giới ngưng tiếng súng, nghĩa là vào những thập niên 1980, 1990, mũ lại cùng phái đẹp hãnh diện khoe mình, trong những kiểu dáng thời thượng điểm xuyết nhiều tiểu tiết đắt giá. Người tiên phong cho trào lưu khoe mũ trước đám đông, không ai khác là công nương Diana của xứ Wales kiều diễm. Ở đâu và bất cứ lúc nào, mỗi khi xuất hiện, công nương Diana đều khiến dân chúng ngưỡng mộ bởi những kiểu mũ rộng vành quý phái của nàng. Và lúc đó, người ta mới công nhận những người làm mũ là các nhà thiết kế thời trang chính thống.
Từ đó đến nay, mũ đã trở thành một biểu tượng của cá tính. Nếu tính từ thời nó còn là mấy nhành lá quấn quanh đầu thì đến giờ, chiếc mũ đã “đi một hành trình” xa và dài về cả kiểu dáng lẫn phong cách. Và nếu còn có khái niệm thời trang phụ kiện, thì chiếc mũ vẫn sẽ còn “đi” tiếp.
Theo sành điệu
Đăng trong Lịch sử, Thời trang | Tagged: History, Thời trang | Leave a Comment »
Lịch sử ngày Lễ Tình nhân
Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007

Một ngày vị linh mục nọ chết, ông để lại cho người bạn bé nhỏ của mình một tấm thiệp nhỏ với những dòng chữ cảm ơn cô gái, ông viết: “Tình yêu đến từ tấm thiệp của bạn”. Và từ đó, gửi thiệp đã trở thành một phong tục để mang những thông điệp tình yêu đến cho nhau trong Ngày lễ tình nhân 14/2.
Đăng trong Lịch sử, Tình yêu | Tagged: History, love | Leave a Comment »
Tiểu sử thú vị của bàn chải và kem đánh răng
Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007
Nhiều khoa học gia đã ví miệng con người như một sở thú, trong đó chen chúc cả vài trăm loại vi sinh vật lành dữ khác nhau, đặc biệt là ở phần sau của lưỡi.
Chúng sống nhờ thực phẩm còn sót lại ở răng miệng, tạo ra vài loại acid và mùi hôi. Acid ăn mòn men răng, dẫn tới sâu răng, rụng răng. Mùi sulfur làm miệng có mùi khó chịu khi nói, khi thở, khi “mi” nhau.
Từ xa xưa, loài người đã ý thức được ảnh hưởng xấu của thực phẩm còn kẹt lại ở răng miệng. Vì thế, sau khi ăn, người châu Á cũng như châu Âu, châu Phi vừa rửa tay, rửa mặt vừa súc miệng. Với một ngụm nước đầy, họ vận dụng mấy thớ thịt ở má làm cho nước nổi sóng, lách qua lách lại khe răng, loại hết thức ăn dính nơi đây. Dùng ngón tay trỏ, người ta chà tới chà lui hàm răng. Nhiều khi họ dùng khăn mặt hoặc một miếng vải nhỏ để lau răng.
Trung Hoa được coi như nơi khai sinh của bàn chải đánh răng đầu tiên trên trái đất, được làm với lông bờm ngựa gắn trên một cái cán bằng tre hoặc xương thú vật. Đó là vào khoảng năm 1498.
Năm 1780, một công dân người Anh, ông William Addis, thấy chà răng bằng miếng vải tẩm muối bất tiện. Ông ta bèn làm bàn chải bằng cách dùi nhiều lỗ nhỏ trên một miếng xương súc vật rồi luồn vào đó nhiều sợi lông đuôi bò cứng ngắn, cắt cho bằng để chải răng. Hiện nay, hậu duệ của ông có cơ sở sản xuất bàn chải răng rất lớn.
Đến năm 1857, bằng sáng chế bàn chải đánh răng đầu tiên tại Mỹ được cấp cho ông H.N. Wadsworth.
Năm 1938, Công ty Dupont dùng sợi nylon làm bàn chải thay thế cho lông súc vật. Lý do là lông thú vật ngày một khan hiếm, lại sợ nhiễm trùng mất vệ sinh. Tuy nhiên, lông heo rừng vẫn còn được nhiều người ưa thích vì là vật hiếm và thiên nhiên.
Đến năm 1939, Thụy Sỹ bắt đầu sản xuất bàn chải đánh răng chạy bằng điện. Năm 1961, công ty General Electric tung ra thị trường bàn chải điện không dây. Tiến bộ hơn nữa là bàn chải xoay tròn Interplak được bán cho công chúng vào năm 1987. Bàn chải điện rất tiện lợi cho người có khó khăn trong vận dụng hai bàn tay, chẳng hạn bị viêm xương khớp, hậu quả tai biến não.
Năm 2003, một cuộc thăm dò dư luận cho hay bàn chải đánh răng được coi là nhu yếu phẩm số một trong đời sống mọi người, cần thiết hơn xe hơi, máy vi tính, điện thoại di động.
Việc đánh răng thường thường chỉ loại bỏ được 70-80% chất bẩn, phần còn lại phải nhờ tới chỉ nha khoa. Chỉ tơ thay thế cho việc dùng tăm cổ truyền dễ gây tác động xấu cho nướu. Đôi khi nhà sản xuất tẩm vào chỉ chất kháng sinh, fluoride, chất gây thơm.
Kem đánh răng
Theo các nhà khảo cổ, kem đánh răng đã được dùng ở Ấn Độ và Trung Hoa từ 500 năm trước Công nguyên. Trước kia người xưa tán vụn xương động vật, vỏ trứng, vỏ hến để chà răng. Sau đó, bột đánh răng được sản xuất từ cỏ cây, than với vài chất có mùi thơm.
Mãi tới năm 1824, một nha sĩ tên là Peabody mới nghĩ ra việc cho thêm xà phòng vào kem đánh răng để có nhiều bọt. Ngày nay, xà phòng được thay thế bằng chất Sodium Lauryl Sulfate, và Sodium Ricinoleate.
Năm 1850, John Harris thêm đá vôi vào kem.
Năm 1892, bác sĩ Washington Sheffield ở Connecticut (Mỹ) nghĩ ra việc cho kem đánh răng vào một ống có thể gấp gọn vào được. Trước đó, kem được chứa trong lọ sứ, dưới dạng nhão, bột hoặc đóng thành từng cục dẹt nhỏ tròn tròn, bọc trong giấy bóng kính.
Đến thập niên 1960, hãng Colgate bắt đầu pha fluoride vào kem để duy trì men răng tốt.
VnExpress
Đăng trong Lịch sử | Tagged: History | Leave a Comment »
Lịch sử Coca Cola
Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007
Lịch sử của nước giải khát Coca – cola đã có hơn 100 năm. John Pemberton, một sĩ quan quân dược thuộc đội quân thất trận trong cuộc chiến tranh Bắc Nam ở Mỹ vào các năm 1861-1865 đã trở về quê hương Atlanta để mở một quán cà phê nhỏ – cửa hàng thực phẩm khô để sống. Trong quán cà phê nhỏ nghèo nàn của mình, dược sĩ này đã bán một số dược liệu và thu nhập được một số tiền ít ỏi. Rồi đến một ngày số dược liệu kia đã cạn, ông phải tìm tòi những dược liệu mới. Một lần ông đã trộn nước chiết từ lá Coca và hạt Cola để uống thử. Đó là vào năm 1886, ông uống thử nước giải khát này và thấy rất ngon. Thế là ông điều chế hàng loạt chai nước giải khát để uống và còn gửi về quê hương ông, ông gọi đó là nước giải khát Coca-cola.
Cây coca có tên khoa học là Erythroxylon coca Lamk, thuộc họ Erythroxylaceae. Từ lá cây này người ta chiết được cocain. Nguồn gốc ở Nam Mỹ, chủ yếu ở Bolivia, Peru, trên các vùng cao, lá lớn, to và dài. Cây coca được nhập vào nước ta cách đây 50 năm, trồng làm cảnh ở các vườn hoa chính của Sài Gòn vì màu lá rất xanh, hoa màu trắng, quả màu đỏ, lại là thứ coca cảnh Erythroxylon coca var, novogratene. Lá coca dễ nhận vì có hai nếp gấp của lá trong chồi (gân giả).
Từ xa xưa, người dân Nam Mỹ đã dùng lá coca để nhai với vôi hay tro đốt như người Việt Nam dùng lá trầu để nhai trầu thì sẽ cảm thấy không đói.
Cây cola có tên khoa học là Cola nitida A.Chey họ Sterculiaceae, trồng nhiều ở châu Phi. Trong hạt coca có caphein và chất đắng colatin. Pháp đưa cây này trồng ở Hà Giang, trước đây có mang về trồng làm mẫu ở Viện Dược liệu. Thời tạm chiến, Pháp phải nhập hạt này cho quân đội châu Phi của họ. Người ta kể rằng một người đưa thư đã chạy suốt đêm để đưa thư khẩn, mà chỉ nhai hạt cola cho khỏi buồn ngủ và tăng sức lực.
Năm 1888, dược sĩ John Pemberton bị ốm nặng, nằm liệt giường. Ông đã bán quy trình pha chế Coca-cola cho một người bạn là Asa Gripps Chandler cũng là một nhà dược liệu học ở Atlanta với giá tiền là 238 đôla. Asa đã cho phát triển mặt hàng Coca-cola, ông cho đóng thêm khí CO2 vào nước giải khát để thêm hấp dẫn. Năm 1892, bằng sáng chế của nước giải khát này đặt dưới nhãn hiệu Coca-cola. Nhờ biết làm ăn và có tài chào hàng, đến năm 1919 Asa đã thu được tiền lời 25 triệu đôla.
Thoạt tiên có chút xíu cocain trong công thức của nó cũng như trong rượu Mariani mà Emile Zola, Jules Verne và ngay cả Hoàng hậu Victoria đều ưa chuộng. Ngay từ năm 1903 các lá coca-cola dùng để pha chế đã chiết hết chất cocain. Năm 1909 trên thị trường đã có 69 loại nước giải khát Coca-cola rởm, tất cả đều có chất chiết lá coca. Tuy vậy ngay từ ban đầu lượng cocain cực kỳ nhỏ, do đó chất kích thích là caphein của hạt cola có nhiều hơn cả chất “ma túy” nói trên. Vì vậy, chúng ta không sợ sẽ nghiện cocain khi uống nước giải khát Coca-cola.
VŨ VĂN CHUYÊN
Nguồn: Thông tin khoa học, công nghệ, số 3.1996
Đăng trong Lịch sử, Ẩm thực | Tagged: Food, History | 1 Comment »
Coco Chanel – bí mật một huyền thoại
Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007
Câu chuyện về bà là huyền thoại về một “đế chế thời trang” được xây dựng nên bởi nỗ lực phi thường, quá trình làm việc không biết mệt mỏi với ngọn lửa sáng tạo dường như không bao giờ tắt.
Gabrielle “Coco” Chanel được coi là một trong những người phụ nữ có ảnh hưởng lớn nhất trong làng thời trang thế kỷ 20. Bà đã tạo nên rất nhiều kỳ tích trong cuộc đời mình cũng như tạo lập nên nhiều xu hướng thời trang mới, những xu hướng mà giới trẻ ngày nay vẫn coi đó là một chuẩn mực khó có thể thay đổi.
Dior đã nói rằng “Với chiếc áo len chui cổ màu đen và mười vòng hạt trai cuốn quanh cổ, Chanel đã cách mạng hóa thời trang”. Chanel không chỉ biết đến bởi “bộ váy đen bé nhỏ” và nước hoa Chanel No.5, mà bà còn nổi tiếng bởi những bộ trang phục, những đôi giầy, những đồ trang sức, những chiếc túi, ví cổ điển và luôn thời trang. Những thiết kế của bà đã giúp cho việc định hướng rõ ràng thời trang phụ nữ trong thế kỷ 20.
Gabrielle Chanel sinh ra tại Saumur, Pháp vào năm 1883, Coco là biệt danh được đặt sau này. Chanel đã khẳng định rằng bà là con duy nhất trong gia đình trong khi đó mẹ bà, bà Jeanne Devolle đã có tới 5 người con. Chanel và chị gái Julie là con hoang của Albert Chanel và Jeanne Devolle. Họ đã cưới nhau sau khi Chanel được sinh ra. Sau khi cưới họ đã có thêm 3 người con nữa Alphonse, Antoinette và Lucien. Vào tháng 2 năm 1895, sức khỏe của bà Jeanne ngày càng đi xuống và bà mất vào tuổi 32.
Tuổi thơ còn lại của Chanel là chuỗi ngày ở trong một trại trẻ mồ côi. Những người họ hàng của Chanel đã không thể bảo bọc được bà và bốn anh chị em của bà. Khi Chanel và Julie về nhà trong ngày lễ, họ đã ở nhà Henri Adrien và Virginie, những người họ hàng bên họ mẹ. Tại đây, lần đầu tiên Chanel đã gặp em ruột của mẹ – dì Adrienne. Họ bằng tuổi nhau và nhanh chóng trở thành những người bạn thân thiết nhất. Họ quá gần gũi đến mức nhiều người đã ngỡ rằng họ là chị em gái.
Chanel đã không bao giờ nói về khoảng thời gian của bà tại Aubazine, cái trại trẻ mồ côi mà bà đã ở đó. Khi được hỏi về khoảng thời gian này, Chanel chỉ nói đơn giản rằng bà sống với rất nhiều người dì mà bà nghĩ rằng họ không thích bà lắm. Chanel đã khẳng định rằng: “Tôi sẽ thật vô ơn nếu nói rằng đó là những bà dì “ghê tởm” bởi tôi đã nợ họ mọi thứ. Một đứa trẻ nổi loại ngày đó đã trở thành một người mạnh mẽ và kiên cường. Đứa trẻ đó có thể yếu ớt và không hạnh phúc nếu nó nhận được quá nhiều nụ hôn, quá nhiều sự chăm sóc, quá nhiều sự dạy dỗ và quá nhiều chất bổ dưỡng. Những bà dì ích kỷ và xấu xa đó đã làm cho nhiều đứa trẻ trở nên rất tự ti trước cuộc đời nhưng trong trường hợp của tôi kết quả lại ngược lại, cách đối xử của họ đã nâng cao thêm lòng tự tôn của tôi. …”
Khi Gabrielle Chanel 20 tuổi, bà và Adrienne đã cùng vào làm tại một cửa hàng quần áo nhỏ nhưng đắt khách có tên là The House of Grampayne.
“Coco” là cái gì?
Vào mùa hè năm bước vào tuổi 21, Chanel đã chuyển đến căn hộ riêng của bà ở Moulins. Adrienne ở cùng bà. Năm đó, hai người bắt đầu hẹn hò với những trung úy hải quân mà Chanel đã tình cờ làm quen khi đang bán hàng. Những chàng trai này đã đưa hai bà tới La Rotonde, một nhà hát opera nổi tiếng. Không ai biết có phải do sự thuyết phục của các chàng lính hải quân hay là thực chất là do Chanel mà ông giám đốc nhà hát La Rotonde đã thuê Chanel làm ca sĩ. Một trong những bài hát mà Chanel thể hiện là về một phụ nữ đã mất con chó của bà ta với cái tên “Coco”. Từ đó Chanel đã có một biệt danh rất nổi tiếng “Coco”, một cái tên ghi dấu ấn rất sâu đậm trong làng thời trang sau này.
Vào tháng 8 năm 1908, Coco bước sang tuổi 25, bà đã có một chuyến du ngoạn tới Pyrenees. Nơi đây Coco đã gặp tình yêu đầu tiên của mình là Arthur Capel, một người rất giàu có với biệt danh được nhiều người biết đến là “Boy”. Trong giai đoạn này, Coco đã nói với Boy rằng “Em sẽ chỉ biết được rằng em có yêu anh hay không khi em không cần anh thêm nữa”. Bà nhận ra rằng, một người phụ nữ phải sống dựa vào những người đàn ông thì thật là tẻ nhạt.
Trong suốt mùa hè của năm 1913, Boy và Coco đã sống ở Deauvil, một khu nghỉ dưỡng. Coco đã mở một cửa hiệu trên một trục đường phố chính nơi mà bà đã bán những thiết kế của bà, bao gồm những chiếc áo len dài tay cao cổ và những chiếc mũ. Cửa hiệu này được Boy trả tiền thuê.
Cửa hàng quần áo của Coco nằm giữa khách sạn Normandy, sòng bạc và biển. Coco đã đặt một mái hiên màu trắng trên đó bà đặt chữ “Gabrielle Chanel”. Coco treo đầy cửa hàng những thiết kế mới của bà. Những bộ quần áo của bà thường rộng, tự nhiên và có gam màu tối. Bà yêu thích những bộ váy dài với những đồ trang sức thanh nhã. Giới nữ cũng rất thích chúng.
Coco đã đi đúng đường
Coco đã làm nên một cuộc cách mạng trong thế giới thời trang. Mọi người yêu quý bà. Cocco ngày càng trở nên rất thanh mảnh và cao lên vì vậy tất cả khách hàng của bà đều cố gắng giảm cân để trông giống bà. Coco cắt ngắn mái tóc của mình và trông bà giống hệt như một cậu con trai trẻ tuổi. Tất cả các khách hàng của bà đều rất mê thích kiểu tóc đó. Rất nhiều bộ váy liền của Coco, vừa vặn ôm lấy thân hình dong dỏng cao, rất dài, với đường eo thấp đã trở thành vẻ đẹp chuẩn mực của nhiều phụ nữ thời đó.
Vào ngày 15 tháng 7 năm 1915, Coco mở một cửa hàng thời trang tại Biarritz. Giờ đây bà đã có ba cửa hàng tại Rue Cambon, Paris và Biarritz. Coco phụ trách hoàn toàn mảng nguyên liệu và các thiết kế của cả ba cửa hàng thời trang đó.
Loại vải đầu tiên của Coco là loại dệt len, loại sản phẩm rất thuận tiện và ôm người nhưng nó không phải là loại vải thích hợp cho những bộ quần áo thời trang. Tuy nhiên bà đã kết hợp với nó rất nhiều loại “phụ tùng” đi kèm như những dây ngọc trai, những chiếc túi xách tay may trần, đôi giầy gót thấp màu ngà xỏ ngón với mũi giầy màu đen, và tất nhiên là sự kết hợp giữa đồ trang sức và quần áo thể thao.
Trong suốt những năm 20 đầy biến động, thời trang của Chanel đã trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Chúng đã tạo ra một lời tuyên bố: “Hãy nhìn xem, Tôi trẻ trung và xinh đẹp”. Đó là khoảng thời gian mà những chiếc váy được cắt ngắn hơn và đường eo hạ thấp xuống. Sau đó Chanel giới thiệu “chiếc váy đen bé nhỏ”. Một thiết kế được coi là “kỳ quan” của giới nữ trong thập niên đó, nó kéo theo một cơn sốt mê say những đôi chân dài và những khhuôn mặt quý phái nổi bật nhờ “chiếc váy đen bé nhỏ” đó.
Lúc này, phong cách của Chanel đã được định hình với hàng dệt len cổ điển và bộ đồ len và ” chiếc váy đen bé nhỏ”. Từ cơ sở vững chắc này, bà đã cho ra đời hàng loạt những thiết kế mới, những bộ sưu tập mới.
Coco đã tin rằng tất cả sự chuyển động của cơ thể con người bắt đầu từ phía sau lưng và mọi thứ là trên những đôi vai. Coco thiết kế cho mọi mẫu hình cơ thể, thanh mảnh hay nặng nề. Bà đã tạo nên những bộ quần áo mà phụ nữ có thể vận động thoải mái đôi tay, chơi gôn và có thể uốn cong người để cài dây giầy. Bà đã đã nhấn mạnh rằng “Tạo sao tôi lại quá chú trọng đến việc xác định những cái cầu vai sao cho nó phù hợp? Phụ nữ có những cái vai rất tròn và khi chuyển động nó thường nhẹ nhàng đẩy lên phí trước, điều đó tác động rất mạnh đến các thiết kế của tôi bởi tôi nghĩ rằng phải thiết kế được một thứ phải không được che dấu nó đi. Sau đó, một số người đã nói với tôi rằng những cái cầu vai nên để ở đằng sau. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một người phụ nữ có cái vai ở đằng sau lưng cả”
Tiếng tăm của Coco lại càng “nổi như cồn” khi bà tung ra sản phẩm nước hoa ghi dấu ấn của tiêng mình, Chanel No. 5, một loại nước hoa độc nhất vô nhị. Trước đó, chưa có ai quan tâm đến việc tạo ra những loại nước hoa có mùi khác mùi hoa thiên nhiên, nhưng Coco đã thay đổi điều đó. Chanel No. 5 có mùi của xạ hương và sự ấm áp của của hương gỗ.
Vào năm 1931, Samuel Goldwin đã thuê Chanel 1 triệu USD để thiết kế trang phục cho các ngôi sao của ông, trong đó có Kathrine Hepburn, Grace Kelly, Elizabeth Taylor và Gloria Swanson. Mặc dù vậy, điều này kéo dài trong thời gian rất ngắn bởi vì rất nhiều ngôi sao mới nổi đã từ chối trang phục của Chanel.
Vào giai đoạn đầu của chiến tranh thế giới thứ 2, giai đoạn khó khăn chung của toàn thế giới. Công ty của Chanel bắt đầu đi xuống. Bà mất rất nhiều tiền. Chanel giải quyết vấn đề này bằng việc đóng các cơ sở kinh doanh thời trang. Hơn thế nữa bà còn để tình trạng này tồi tệ hơn bằng việc hẹn hò với một đảng viên Đức quốc xã, Hans Gunther Von Dincklage. Mối quan hệ này chẳng giúp gì cho bà mà lại làm cho bà trở nên tuột dốc thảm hại trong thế giới thời trang. Và trên hết bà đã làm mất đi sự trân trọng của khách hàng đối với mình.
Năm 1939, Chanel cho đóng cửa hàng thời trang lại. Càng ngày bà càng thấy bà đơn độc hơ. Cuối cùng, bà đã từ bỏ mọi quyền lực của mình đối với công ty nước hoa của bà và đã bán lại cho anh em nhà Wertheimer, những người mà ngày nay vẫn đang sở hữu công ty
Năm 1954, Chanel đã có một sự quay trở lại rất thành công. Bà ra quyết định này bởi hai lý do: đầu tiên là doanh số nước hoa của bà đang giảm sút và các cố vấn tài chính của bà đưa ra lời khuyên rằng một buổi mở cửa trở lại của Salons de Couture của bà sẽ giúp cho doanh số bán nước hoa tăng lên. Thứ hai: xu hướng được ưa thích của thời trang năm 1954 rất tương đồng với những trang phục mà bà đã đưa ra rất thành công 6 năm trước đó – thời điểm bà bắt đầu sự nghiệp.
Ngày 5 tháng 2 năm 1954, Chanel thông báo rằng bà sẽ có một buổi trình diễn bộ sưu tập đầu tiên kể từ sau chiến tranh. Đêm trình diễn đó, bào đã không dám xuất hiện trước bạn bè mà ngồi xem các người mẫu trình diễn từ trên cầu thang gác. Bà thực sự lo sợ mọi người sẽ không chấp nhận và không tha thứ cho bà. Nhưng Chanel đã nhầm, thế giới thời trang nồng nhiệt chào đón bà trở lại.
Cho dù đó là những bộ đồ của thập kỷ 30 hay 60 hoặc một “thiên niên kỷ” trang phục thì những bộ trang phục cổ điển của Chanel luôn đứng ở hàng cao nhất. Ngày nay, giá trung bình cho một bộ trang phục của Chanel là 5.000 USD và chỉ có thể mua được ở những cửa hàng của Chanel hoặc shop cao cấp như Saks Fifth Avenue.
Khi Chanel 71 tuổi, bà đã mở lại cửa hàng tại Paris và nhanh chóng thử nghiệm một loại trang phục mới, không cổ, có đường viền, làm bằng vải len và và tuýt. Mặc dù thời trẻ bà phản đối việc sử dụng trang sức đi kèm trang phục, nhưng trong những mẫu trang phục này bà luôn kết hợp chúng với bộ dây chuyền hoặc những chuỗi ngọc trai.
Coco mất tại Paris vào ngày 10 tháng 1 năm 1971. Sau cái chết của bà, Karl Lagarfeld đã tiếp quản toàn bộ công việc kinh doanh của bà. Ngày nay, ông vẫn cho ra mắt những bộ sưu tập có tên Chanel.
Mãi đến tận bây giờ, phụ nữ trên khắp thế giới vẫn đang mua những “bộ váy đen bé nhỏ” và những bộ trang phục bằng vải tuýt mà Chanel đã làm nên tiếng tăm lừng lẫy. Phong cách của bà đã ảnh hưởng tới trang phục của nhiều người phụ nữ trong suốt sự nghiệp của bà và cả sau khi bà đã mất. Thời trang của bà vẫn sống ngay cả khi bà không còn nữa.
Karl Lagerfeld – Người kế thừa hoàn hảo
Sau khi Coco Chanel qua đời, Karl Lagerfeld trở thành người thiết kế chính của hãng Chanel. Ông đã làm thỏa mãn kỳ vọng những con tim mộ điệu thời trang Chanel. Với những bộ thiết kế vẫn mang đậm phong cách Coco Chanel nhưng được cách tân để phù hợp với thực tiễn.
Một thành tựu không thể không nhắc đến của Karl Lagerfeld chính là ông đã thành công khi thay đổi những gương mặt đại diện cho Chanel. 2004 ông chọn nữ diễn viên điện ảnh Nicole Kidman làm đại diện mới cho nhãn hiệu nước hoa No.5; Ligne Cambon đại diện cho giỏ xách và nữ minh tinh Pháp, Vanessa Paradis đại diện cho các dòng trang sức, mỹ phẩm của Chanel. Sự thay đổi này đã thổi một làn gió mới cho Chanel có thời gian đã bị đánh giá là tụt hậu so với các hãng thời trang khác. Sự quyết đoán, tài năng và khả năng phán đoán nhanh nhạy của Karl Lagerfeld đc giúp cho Chanel đứng vững và phát triển vượt bậc cho đến ngày nay.
Logo và tên nhãn hiệu
Logo của Chanel được thiết kế bởi Gabrielle Chanel. Đó là 2 chữ C hoa đối lập và móc chung lại với nhau, mang ý nghĩa là… Coco Chanel, tên của người sáng lập. Logo ra đời nhanh chóng được đón nhận vì nó thể hiện được tính thời trang cũng như phương châm của Chanel: “Back to Basic”, vừa đơn giản vừa qúy phái, sang trọng.
Khi nhắc đến Chanel, mọi người liên tưởng ngay đến nhãn thiệu thời trang cao cấp, quý phái và sang trọng. Ngoài ra, sẽ thật là thiếu sót nếu không nhắc đến nhãn hiệu nước hoa mà mùi hương của nó đã trở thành kinh điển: Chanel No.5!
No. 5 là nhãn hiệu đầu tiên bà chế tạo, tiếp theo đó là các dòng nước hoa No. 22, No. 19… Coco Chanel chưa bao giờ giải thích lý do vì sao bà lại đặt tên như vậy. Nhưng có một điều là ai cũng biết, con số mà Coco yêu thích nhất là con số 5.
Theo NETMODE
Đăng trong Thời trang | Tagged: History, Thời trang | Leave a Comment »
Levi và thương hiệu Levis
Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007
Năm 1853, Levi Strauss đến San Francisco bán quần áo và vải. Thực ra không phải là các sản phẩm chăn mềm và khăn trải bàn làm cho Levi trở nên nổi tiếng với thương hiệu tồn tại hơn 150 năm, mà thực ra là những chiếc quần Les do thợ mỏ ở California lần đầu tiên mặc. Levi đã bán sản phẩm này trên thị trường và trong suốt các thập niên tiếp theo chúng là sản phẩm được yêu thích trên toàn thế giới – những chiếc quần bò màu xanh.
Mọi người đều mặc chiếc quần Levis, từ những chàng cao bồi bị quên lãng ở miền Tây nước Mỹ đến những người trẻ tuổi ở bên bờ bức tường Beclin bị đổ. Các thế hệ mặc chiếc quần Levis và coi đây là một biểu tượng của sự tự do, độc lập, trẻ trung.
Sự tích… Levis
Những năm 1850, San Francisco còn trong thời chiến tranh. Người dân lũ lượt kéo nhau bỏ thành phố để tìm vận may ở các vùng đào vàng. Năm 1853, lúc này Levi Strauss mới chỉ 24 tuổi đến San Francisco để mở chi nhánh bán quần áo cho anh trai tại các vùng ven biển miền Tây. Đầu tiên Levi bán quần và áo, cũng như là khăn tay và phụ tùng cho quần áo. Một trong những khách hàng mua vài phụ kiện cho quần áo là một thủy thủ tên là Jacob David đến từ Nevada.
Jacob có một khách hàng luôn luôn làm rách quần và vợ anh ta cũng yêu cầu Jacob làm cách nào đó để chiếc quần không bị rách nữa. Vì những chiếc đinh tán bằng đồng sẽ làm cho túi quần chắc thêm, nên Jacob đã may thêm chúng vào các đường mép của quần như góc túi quần và đường may cuối cùng của chiếc khuy quần, và Jacob đã có một sản phẩm độc đáo.
Khi Jacob không thể chi trả được 68$ tiền đăng kí bản quyền, Jacob đã viết thư tay cho Levi đề nghị cả 2 cùng trả khoản tiền này. Levi một nhà kinh doanh khôn ngoan, nhanh chóng nhìn thấy tiềm năng của món hàng mới mẻ và hào hứng chớp lấy thời cơ này. Năm 1873, Levi và Jacob nhận được giấy đăng kí bản quyền, họ đã cùng nhau sản xuất ra những chiếc quần bò màu xanh có đinh tán bằng đồng được biết đến tận ngày hôm nay.
Trong một thời gian ngắn, tất cả người lao động đều mua loại quần mới này và đã lan rộng khắp nơi với câu nói “đây là quần Levis và độ bền của nó thì không loại nào sánh kịp”. Khoảng năm 1890, những chiếc quần này được đánh số là “501″. Cùng với thời gian, chiếc quần yếm LevisR nhanh chóng phổ biến khắp nơi và Levi Strauss & Co cũng nổi tiếng với sản phẩm độc đáo và các hoạt động kinh doanh.
Người đàn ông nhân đức
Levi là một người đặt nền tảng cho công ty, ông chỉ bán sản phẩm tốt nhất với giá cả phải chăng. Ông đối xử với nhân viên rất tốt và nghiêm khắc. Và ông cũng thường thể hiện trách nhiệm của mình đối với xã hội. Trong suốt cuộc đời mình Levi Strauss hào phóng ủng hộ tiền cho các tổ chức xã hội, ông nổi tiếng là người rộng lượng và đặc biệt quan tâm đến thế hệ trẻ. Trong những năm đầu tiên ở San Francisco và ngay cả khi ông bắt đầu làm công việc kinh doanh, Levi tặng 5$ cho trại mồi côi San Francisco (tương đương với hơn 100$ hiện nay).
Cho đến tận sau này ông vẫn tiếp tục làm việc thiện và năm 1902, trước khi chết, Levi đã để lại 28 suất học bổng cho trường đại học Berkeley, California. Nhiều báo đã đưa tin về cái chết của Levi trên trang nhất và dòng tít trên báo San Francisco viết: “Levi Strauss nhà thương nhân và nhà nhân đức, chết một cách bình yên tại nhà”. Levi không chỉ là người đưa chiếc quần bò xanh đến với thế giới, ông còn là tấm gương về đạo đức trong giới lãnh đạo kinh doanh có trách nhiệm với xã hội.
Hành động đối xử tốt với xã hội của Levi Strauss vẫn tiếp tục kéo dài. Hơn 50 năm sau, quỹ Levi Strauss vẫn tiếp tục ủng hộ và làm cho xã hội thay đổi. Ngay từ ngày khởi đầu, tổ chức đã chi hàng chục triệu đô la cho các hoạt động từ thiện khắp thế giới, giúp đỡ các gia đình khó khăn.
Sự đổi mới ở thế kỉ 20
Mỗi bộ quần áo, kể cả bộ thời trang hay truyền thống, đều là một phần trong di sản của Levi Strauss. Trong thế kỉ 20 này những chiếc quần jeans truyền thống được khôi phục lại bằng loại vải bò mới có tên là LevisR Type 1TM Đường may được làm nổi bật đậm, những chi tiết đặc trưng của chiếc quần LevisR được làm to ra: khuyết bằng đồng, nhãn đỏ, miếng da thật hình 2 con ngựa và đường may trên túi sau giống như cánh chim. Thế giới thời trang nhanh chóng đón nhận dòng sản phẩm này bao gồm quần LevisR Engineered JeansTM và quần LevisR Superlow…
Đến gần đây nhất dòng sản phẩm LevisR Copper ra đời đã thực sự gây được sự cuốn hút. Tinh thần sáng tạo chung của dòng sản phẩm này là sự quyến rũ thô ráp. Mang đậm tinh thần cổ điển, qua những đường nét khéo léo tỉ mỉ, những chiếc đinh tán to bản bằng đồng, chi tiết da thô và sự hoàn thiện kiểu cũ như bày tỏ sự kính trọng tới những chiếc quần jeans có đinh tán đầu tiên được phát minh ra hơn 130 năm trước. Đường may viền màu đồng sáng ở túi nhỏ phía ngoài làm nổi bật lên đường cong đặc trưng của Levis, những đường cong may nối chịu áp lực ở cạnh quần. Những chiếc cúc và đinh tán dòng Copper được sử dụng cũng nhuộm màu đồng theo một môtíp thống nhất.
Sản phẩm chính của dòng này là các loại quần jeans với túi sau may nghiêng và túi trước may hình mũi xẻng một cách tinh vi. Miếng da thật có in hình 2 con ngựa đặc trưng cho nhãn hiệu Levis cũng được làm theo kiểu không cân xứng. Những chiếc quần được hoàn thiện theo kiểu cổ với tông màu từ trung tới tối, phủ ra ngoài màu đỏ của chất vải. Những đường chỉ không cắt hết, các vết nhăn và những mảng miếng rời như sự cẩu thả đều lại là sự hữu ý mang đến sự tương phản tinh tế cho dòng Copper. Khâu hoàn thiện cũng mang cái tên lấy cảm hứng của những chàng cao bôi miền Tây như Orange Country, Gold Rush, American Cowboy.
Từ một chiếc quần bò và đến nay vẫn là chiếc quần, nhưng Levis vẫn không ngừng sáng tạo để chiếc quần thương hiệu Levis trở thành phong cách và kinh nghiệm sống cho người sử dụng chúng. Riêng đối với những tín đồ của mốt, sở hữu sản phẩm của Levis còn thể hiện đẳng cấp và sự am hiểu về thời trang.
Theo YÊU THỜI TRANG
Đăng trong Thời trang | Tagged: History, Thời trang | Leave a Comment »
Gucci: Nhãn hiệu của sự tinh tế
Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007
Từ lâu, nhãn hiệu Gucci được biết đến như một nhãn hiệu cao cấp của giới thượng lưu say mê cái đẹp. Những mẫu túi da, giày, thắt lưng… của Gucci luôn mang đến sự mới lạ, với kiểu dáng tinh tế và hợp thời trang.
Guccio Gucci người tạo nên biểu tượng thời trang mới
Guccio Gucci, người sáng lập ra nhãn hiệu Gucci đã bắt đầu cửa hàng da và túi xách đầu tiên của mình tại thành phố quê hương Florence vào năm 1921. Trải qua nhiều năm làm việc tại khách sạn Savoy London, ông đã lĩnh hội được khiếu thẩm mỹ tinh tế của giới quý tộc Anh, và đã giới thiệu được đặc tính này thông qua các sản phẩm hàng da cao cấp được làm từ các nghệ nhân về da thuộc vùng Tuscan.
Vài năm sau, nhãn hiệu Gucci đã thành công nhờ thu hút được sự quan tâm của các khách hàng thượng lưu sành điệu với bộ sưu tập: túi xách, gậy, găng tay, giày và dây lưng cho những người cưỡi ngựa. Kiểu dáng bàn đạp và mõm ngựa đã nhanh chóng trở thành biểu tượng của nhà thời trang và của cái đẹp đầy sáng tạo không ngừng.
Do đối mặt với nguồn nguyên liệu thiếu hụt vào những năm 1940 trong chế độ độc tài phát xít ở Ý, Gucci đã tạo dựng một hình ảnh thương hiệu mới mang tính sáng tạo và xoay xở cao. “Túi xách bằng tre” đã trở thành một trong những dòng sản phẩm đặc trưng đầu tiên của Gucci, và cho đến nay loại túi xách này vẫn còn được sản xuất và sử dụng.
Vào những năm 1950, nhãn hiệu màu xanh lá – đỏ được tạo nên từ hình ảnh đai yên ngựa, đã thành công mỹ mãn và trở thành một trong những biểu tượng đặc trưng quen thuộc nhất của thương hiệu. Đồng thời, Gucci lần lượt khai trương các cửa hàng sang trọng ở Milan, New York, London, Palm Beach và Beverly Hills để tạo dựng thương hiệu hàng đầu như một biểu tượng của sự sang trọng hiện đại.
Năm 1953, Guccio Gucci qua đời, các con trai ông là Aldo, Vasco, Ugo và Rodolfo tiếp tục kế thừa công việc kinh doanh của cha mình.
Nhãn hiệu của vật liệu cao cấp và sáng tạo
Sản phẩm của Gucci luôn được ưa chuộng trên toàn thế giới và trong một thời gian dài, nhãn hiệu này biểu tượng cho những nhân vật tên tuổi và ngôi sao điện ảnh lớn như Jackie Onassis, Elizabeth Taylor. Thiết kế của giày da với chi tiết hàm thiếc ngựa một thời là bộ sưu tập tại Viện Nghiên Cứu Thời Trang Metropolitan cũng như Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật tại New York. Khăn choàng in bông bằng lụa cũng được thiết kế dành cho cô đào Grace Kelly nổi tiếng một thời và sau này là hoàng hậu Monte Carlo.
Vào cuối thập niên 60, Gucci chính thức đưa nhãn hiệu hai chữ “G” đôi vào thế giới huyền thoại của mình. Tiếp tục việc truyền bá thương hiệu ra toàn cầu vào những năm thập niên 70, đưa thương hiệu vào khu vực châu Á như Hongkong và Tokyo.
Gucci tiếp tục tăng tính đa dạng của sản phẩm, chú trọng việc tìm kiếm những mẫu mã đặc biệt dựa trên những vật liệu cao cấp và thiết kế sáng tạo, nhằm tạo ra thương hiệu về chất lượng và kiểu dáng tinh xảo. Những mẫu mã cổ điển được thay đổi lại với hình dáng và màu sắc phù hợp, đồng thời giới thiệu ra những dòng sản phẩm mới.
Làn gió mới
Năm 1981, con trai của Rodolfo – Maurizio Gucci nắm quyền quản lý công ty. Đồng thời, Demenico De Sole trở thành chủ tịch của Gucci America vào năm 1984.
Gucci lại tái tiến hành cuộc chinh phục toàn cầu bằng chiến dịch kết hợp giữa truyền thống và cách tân. Năm 1994, Tom Ford trở thành giám đốc thiết kế của Gucci. Và tư tưởng khiêu khích, dám đương đầu với thách thức được thể hiện qua các kiểu dáng giày gót nhọn và áo đầm bằng thun jersey ôm sát người, trang trí thêm những chi tiết kim loại lóng lánh. Những mẫu thiết kế này đã tạo dựng nên tên tuổi và biểu tượng của ông.
Năm 1990, Domenico De Sole được bổ nhiệm vào vị trí Giám đốc điều hành và vào năm 1999, Gucci là công ty đa thương hiệu trên toàn thế giới.
Sau khi Domenico De Sole từ chức vào năm 2004, Mark Lee chính thức nắm vị trí Chủ tịch và Giám đốc điều hành năm 2005. Kể từ đó, cô Frida Gianni – Giám đốc sáng tạo đã cùng với Gucci khai thác thương hiệu qua dòng sản phẩm mới “La Pelle Guccissima”.
Năm 2006, Gucci đánh dấu 85 năm có mặt trên thị trường và đã xuất bản cuốn sách đặc biệt dày 450 trang, giới thiệu về một hành trình hướng về lịch sử và truyền thống. Khẳng định sự trung thành với kiểu dáng sang trọng, kết hợp kỹ thuật tinh xảo cầu kỳ của Ý để tạo nên sản phẩm đẹp hoàn hảo.
(theo Mỹ Thuật)
Đăng trong Thời trang | Tagged: History, Thời trang | Leave a Comment »



