HằngNga, tui iu em lắm!!! ;))

Style: Lãng mạn…Trong sáng…Vui tính…Thân thiện…Kết bạn mọi nơi…!!! Welcome!!! ^__^

Posts Tagged ‘Thời trang’

Kim cương: “Hoàng đế” của đá quý

Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007


Từ kim cương có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp cổ (Adamas) có nghĩa là tình yêu bất diệt. Những vị thần linh đeo kim cương trên tay để chứng tỏ sức mạnh vĩ đại của họ. Theo người Ai Cập cổ, mạch tình yêu cháy từ ngón tay thứ 3 của bàn tay trái tới trái tim, vì thế để bày tỏ tình yêu, người ta đeo kim cương vào ngón tay trỏ.

Quà tặng đặc biệt của tạo hoá

Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta bắt gặp nhiều điều kỳ lạ đến mức trớ trêu của tạo hoá. Chất cacbon (C) trong than chì, than đá khi kết hợp với khí hydrô (H) tạo nên khí đốt thiên nhiên (CH4), nhưng chính cacbon đó ở dạng đặc biệt lại trong suốt, cứng nhất trong số tất cả các khoáng chất. Nó có tên là kim cương – vị hoàng đế của đá quý.

Về phương diện khoa học, kim cương là cacbon không khác gì than chì, than đá về bản chất hoá học. Nhưng kỳ lạ ở chỗ, than chì có độ cứng thấp, trong khi đó kim cương lại có độ cứng cao nhất.

Ban đầu các hợp chất hữu cơ (thành phần cơ bản là cacbon) phân huỷ thành khí metan, than bùn, dầu khí, than chì. Nếu chuỗi tiến hoá ấy chỉ kết thúc ở đây thì các quý bà quý cô sẽ rất buồn phiền về sự xấu xí của than chì. Nhưng tạo hoá đã chiều lòng họ để tạo ra một sản phẩm đặc biệt quý hiếm từ cacbon.

Cacbon của kim cương không bắt nguồn từ các chất hữu cơ trên bề mặt trái đất mà nó là các dung thể trong lòng trái đất ở độ sâu khoảng 100km. Dung thể đó cùng với chất cacbon nguyên sinh theo các đường nứt chui lên bề mặt trái đất tạo nên những vụ nổ để lại các dấu vết là các “ống nổ” hình phễu được lấp đầy lớp đá màu xanh có tên là kimberlit và những viên kim cương lấp lánh. Đường kính ống nổ đo được từ vài trăm đến 5km. Xuống độ sâu chừng 5km thì thót lại. Những ống nổ kimberlit chứa nhiều kim cương, hay còn gọi là các mỏ. Kim cương có nhiều ở Nam Phi, Đông Phi, Siberi, Ấn Độ, Úc, Canada và Trung Quốc.

Hàng tỷ năm, dưới áp lực của sức nóng tự nhiên trong lòng chảo nham thạch, tinh thể cacbon chồng khít dưới dạng những ô mạng tinh thể hình lập phương rất chặt nên có tỷ trọng cao (hơn than chì gấp nhiều lần). Trong khi nhân loại có những mỏ than chì hàng chục triệu tấn thì kim cương lại vô cùng hiếm hoi với những mỏ có sản lượng vài tấn đã được coi là lớn.

Kim cương thường trong suốt vì thế những viên kim cương màu vàng, xanh, đỏ, nâu là vô cùng quý hiếm. Giá của viên kim cương màu xanh nặng chừng 1g có thể lên tới 1 triệu USD trong khi màu trắng thuần khiết chỉ rẻ bằng 1/20.

Ở nước ta, có thời kỳ các nhà địa chất đã phát hiện khoáng vật trong ruột tinh thể đá ruby ở vùng rừng Yên Bái làm dấy nên niềm hi vọng Việt Nam có kim cương. Ngày nay, công nghệ chế tác kim cương đã đạt đến sự hoàn hảo với quy mô lớn và thiết bị tự động hoá. Trung bình các trung tâm chế tác lớn ở Bỉ, Israel, Canada, Hồng Kông chế tác hai tấn thành phẩm một năm. Mẫu mã cũng ngày càng thay đổi từ kiểu cũ với khoảng 60 mặt trên 1 viên đá, thì nay kiểu mới với 86 mặt trên 1 viên đá.

Từ năm 1955 các nhà khoa học đã chế tác được kim cương nhân tạo. Ban đầu họ chỉ tạo ra được những viên kim cương có kích thước bé dùng làm vật liệu mài mòn quang học, và có giá thành cao hơn kim cương tự nhiên, nhưng đến thập kỷ gần đây kim cương nhân tạo đã có đủ kích thước để làm đồ trang sức. Kỷ lục ghi nhận viên kim cương nhân tạo có kích thước lớn nhất nặng tới gần 7g.

Do kim cương rất quý hiếm nên ngoài kim cương nhân tạo còn có kim cương giả, một trong những loại đó là “hạt xoàn Mỹ”, thực chất chỉ là hợp chất ziconi thường gọi là cubic ziconi rẻ tiền được chế tác thành đồ trang sức thoạt nhìn không khác kim cương là mấy (tuy nhiên các thông số khác như tỷ trọng, độ cứng, chiết xuất… khác với kim cương).

Bằng các kỹ thuật hiện đại người ta có thể tạo ra kim cương có màu sắc khác nhau. Bằng kỹ thuật lazer có thể xoá bỏ những khuyết tật bên trong của kim cương. Những sản phẩm đó đều bị xem là hàng giả (nó có thể làm thay đổi giá của viên kim cương đến hàng chục lần).

Một số viên kim cương nổi tiếng nhất

Kahn Canary: Được tìm thấy trong lòng núi lửa của Công viên quốc gia Hoa Kỳ được coi là biểu tượng của nước Mỹ. Một người tên là George Stepp đã tìm ra viên kim cương này sau đó bán cho người thợ kim hoàn Kahn Canary. Kahn Canary có hình dạng 3 mặt tự nhiên màu chói vàng là dạng đặc biệt quý hiếm. Nó trở thành biểu tượng của tiểu bang Arkansas với cái tên thứ hai là The New state.

The Idol eye (mắt của tượng thần): Trước khi bị đánh cắp, viên kim cương hình quả lê dẹt có kích thước một quả trứng được đặt trong con mắt của tượng thần. Người ta cho rằng nó chính là vật cống nộp của thủ lĩnh vùng Kashmir cho vua Thổ Nhĩ Kỳ.

The Star of the East: Viên kim cương Ngôi sao phương Đông ban đầu có tên là Ahmedabad được một thương gia người Pháp mua. Sau đó nó được cắt gọt và đặt tên là Ngôi sao phương Đông để cống nộp cho vua Abudul Hamid II của đế chế Ottma. Trong chiến tranh, nó cùng với viên kim cương Hy vọng bị thất lạc. Đến năm 1908, Ngôi sao phương Đông xuất hiện tại Đức được Evalyn Mclean mua lại với giá kỷ lục thời bấy giờ là 120.000 USD.

VIETNAMNET

Đăng trong Thời trang | Tagged: | Leave a Comment »

Salvatore Ferragamo: Đẳng cấp “siêu sao”

Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007

 

Được coi là một huyền thoại trong lĩnh vực thời trang, tên tuổi Salvatore Ferragamo đã và đang gắn liền với rất nhiều tên tuổi siêu sao hàng đầu của Hollywood như Mary Pickford, Audrey Hepburn, Gloria Swanson, Greta Garbo, Marilyn Monroe, Catherine Zeta Jones, Chương Tử Di

 

Điều đáng nói là ở chỗ, đến ngày nay, nhiều nhân vật nổi tiếng đã coi việc sở hữu những sản phẩm mang thương hiệu Salvatore Ferragamo chính là một sự khẳng định cho… đẳng cấp của mình.

 

Lịch sử một huyền thoại

 

Tên tuổi của Salvatore Ferragamo được biết đến lần đầu tiên với bộ phim Way Down East. Ngay sau đó, những đôi giày của ông đã xuất hiện trong các bộ phim kinh điển của Hollywood như The Thief of Badhdad, Ever After, The Ten Commandments, The Seven Year Itch

Ngày nay, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy sự xuất hiện của những đôi giày Salvatore Ferragamo trong các bộ phim nổi tiếng khác như The Departed, Miami Vice… Chính Salvatore cũng đã tự tay đóng cho nữ diễn viên huyền thoại Marilyn Monroe một đôi giày màu đỏ khảm 3.000 viên đá Swarovski với tiền công chỉ là… 40 USD. Sau đó (vào năm 1999), đôi giày này đã được mua lại tại buổi đấu giá Christie (New York) với giá 48.000 USD. Và chính nhờ sự nổi tiếng của các khách hàng, chỉ ít lâu sau khi lập nghiệp ở Mỹ, Salvatore Ferragamo đã được “phong tặng” danh hiệu: “Shoemaker to the star” (nhà thiết kế giày cho các ngôi sao)…

 

Thành công của Savatore Ferragamo thực tế là kết quả của quá trình lập nghiệp tự thân. Salvatore sinh năm 1898 tại Bonito, một ngôi làng nằm ở phía Nam nước Ý. Thừa hưởng truyền thống của một đất nước giàu kinh nghiệm thuộc da và làm giầy, Salvatore Ferragamo đã gắn bó với nghề làm giày từ rất sớm. Ngay từ năm 8 tuổi, ông đã tự mày mò và may tặng chị gái mình một đôi giày trong hoàn cảnh gia đình rất khó khăn.

 

Lên 11 tuổi, Salvatore Ferragamo bỏ học rồi xin làm thợ học việc tại nhà một ông thợ giày trong làng, bắt đầu từ việc thử giày cho các phu nhân. Sau đó 2 năm, bất chấp sự cười chê của dân làng lúc đó, ông đã tự mình mở cửa hàng riêng ở Bonito và thuê những người lớn tuổi hơn mình làm thợ phụ việc. Đến năm 1914, không hài lòng với điều kiện sống đang có, Salvatore Ferragamo cùng 3 người anh ruột lên đường di cư sang Mỹ như tư tưởng của nhiều nam thanh niên Italia cùng thời.

 

Tại Mỹ, người anh cả của Salvatore là Alfonso được nhận vào làm thợ may quần áo cho các diễn viên tại hãng phim American Film ở Santa Barbara. Chính ông đã giới thiệu Salvatore vào làm thợ giày cho hãng phim này khi thấy ông chủ hãng liên tục phàn nàn về vấn đề giày dép của các diễn viên trong hãng. Từ đó, Salvatore đã mở được cho mình một xưởng đóng giày riêng chuyên để phục vụ các diễn viên.

 

Dần dần, bằng chính nguồn vốn kinh doanh của mình, ông đã chính thức mở một cửa hiệu đóng giày khang trang trên phố Wilshire ở Hollywood. Năm 1927, nhận thấy đội ngũ lao động tại Mỹ không thể làm nên những đôi giày như mình mong muốn, Salvatore quyết định quay trở lại Ý và đã chọn Florence làm điểm dừng chân. Từ đây, thương hiệu Salvatore Ferragamo lại một lần nữa được khẳng định với những sản phẩm làm bằng tay và được xuất khẩu rộng khắp.

Nghệ thuật của sự sáng tạo

 

Trên thực tế, thành công của Salvatore Ferragamo không phải là một sự ngẫu nhiên may mắn. Và khách hàng ưa chuộng những đôi giày của Salvatore Ferragamo hoàn toàn không phải là vì họ chạy theo trào lưu. Danh tiếng lẫy lừng mà Salvatore Ferragamo có được ngày hôm nay chính là nhờ các sản phẩm thời trang cao cấp được làm hoàn toàn bằng phương pháp thủ công, kết hợp với sự sáng tạo độc đáo về thiết kế kiểu dáng, mẫu mã trong khi vẫn giữ được những nét đặc trưng truyền thống của thương hiệu.

 

Khám phá quan trọng đầu tiên tạo nên tên tuổi thương hiệu Salvatore Ferragamo thực ra không phải là ở mẫu mã, chất liệu sản phẩm mà lại chỉ đơn giản là sự thay đổi ở một chi tiết thiết kế, giúp bảo vệ sức khỏe đôi chân và định dạng form giày. Bằng kiến thức về khoa học phẫu thuật, hóa học và toán học, ông đã phát hiện ra rằng toàn bộ năng lượng cơ thể của người mang giày đều tựa lên “vòm cong” của đôi giày. Nếu không được hỗ trợ tốt thì sau một thời gian sử dụng, vòm cong này sẽ bị biến dạng, gót giày sẽ bị vênh và sẽ gây ảnh hưởng đến dáng đi cũng như sức khỏe của người sử dụng.

 

Để tăng cường độ cứng cho vòm cong của giày và giúp giảm bớt sức nặng của cơ thể lên khối xương bàn chân, Salvatore Ferragamo đã thay thế miếng đệm da truyền thống đặt giữa đế giày và mặt lót trên của giày bằng một thanh thép. Chính điều đó đã giúp cho những đôi giày của Salvatore Ferragamo luôn đem đến cho người sử dụng sự thoải mái vượt trội.

 

Nhưng nếu chỉ có vậy thì có lẽ những đôi giày hiệu Salvatore Ferragamo đã không trở nên nổi tiếng đến thế. Sức cuốn hút của Salvatore Ferragamo còn là ở những mẫu mã, kiểu dáng giày hết sức độc đáo, mới lạ và luôn mang tính tiên phong. Chính quá trình làm việc với hãng phim American Film đã giúp Salvatore sáng tạo nên những mẫu giày “không che hết da thịt” để tăng thêm sự gợi cảm cho đôi chân của các minh tinh.

Năm 1951, Salvatore Ferragamo đã phát minh ra dòng sản phẩm Kimo, là sự kết hợp giữa lớp ngoài là một đôi sandal lưới làm từ da bê mạ vàng và lớp bên trong là chiếc vớ “Kimo” (một loại vớ thấp cổ). Hai phần này có thể tháo rời giúp người sử dụng có thể dùng sản phẩm cho cả ngày và đêm. Chính kiểu dáng Kimo này đã tạo cảm hứng cho hàng loạt sản phẩm như vải hai mặt có hai mầu khác nhau, da hai mặt, túi xách thay đổi ngăn bên trong… (những phát minh tiêu biểu của Salvatore Ferragamo) sau này.

 

Năm 1954, Salvatore Ferragamo tiếp tục phát minh ra đế giày kiểu vỏ sò với sự mở rộng bề mặt đế đến eo bàn chân, làm tăng độ cứng của đế và trợ lực tối đa cho đôi bàn chân. Với mẫu đế gia cố kiểu sò, Salvatore đã sáng tạo ra rất nhiều kiểu giày được đón nhận nồng hậu, trong đó nổi tiếng nhất là mẫu giày đế thấp kiểu giày múa ba-lê có tên gọi “Audrey”. Sau này, móc khóa kim loại Gancino, chiếc nơ sọc ngang có tấm thẻ vàng Vara… cũng đã trở thành những biểu tượng nổi tiếng của thương hiệu Salvatore Ferragamo trên khắp toàn cầu.

 

Và với sự nỗ lực không ngừng của dòng họ Ferragamo, ngày nay Salvatore Ferragamo đã trở thành một trong những thương hiệu thời trang cao cấp nổi tiếng nhất trên toàn thế giới về thiết kế, sản xuất và phân phối các sản phẩm thời trang như giày, các loại sản phẩm làm từ da thuộc, phụ kiện, dầu thơm và quần áo thời trang được mọi giới hâm mộ…

Báo TIÊU DÙNG

Đăng trong Thời trang | Tagged: | Leave a Comment »

Gianfranco Ferre: Nhà kiến trúc của thời trang Ý

Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007

ST - Gianfranco Ferre: Nhà kiến trúc của thời trang Ý

Một trong những khuynh hướng đang dần trở nên phổ biến đó là đưa kiến trúc và những hình khối vào trang phục. Nếu ở Pháp, Pierre Cardin đã bắt đầu khuynh hướng này thì ở Ý người ta không thể không nhắc đến Gianfranco Ferre.

Sự hài hòa giữa cổ điển và hiện đại, giữa cấu trúc hình học và những đường cắt tự do, đó là điểm nhất để mô tả về những sáng tạo của nhà thiết kế nổi tiếng này. Đúng như người ta đã gọi ông: Gianfranco Ferre là “người thợ” Frank Lioyd của thời trang Ý.

 

1. Quá trình sáng tạo

 

Năm 1944 Gianfranco Ferre sinh ra ở Legnano, Ý. Ông có cùng ngày sinh với vị tướng nổi tiếng của Pháp Napoleon Bonaparle. Mẹ Ferre là một góa phụ của một kỹ sư. Trong suốt tuổi thơ của mình, Gianfranco và em trai lớn lên trong sự nuôi dưỡng của mẹ và 2 dì – những người đã có ảnh hưởng rất lớn đến ông. Năm 1967, Gianfranco tốt nghiệp đại học và trở thành một kiến trúc sư ở Milan.

Thế nhưng công việc đầu tiên của ông không phải với vai trò kiến trúc sư mà là người thiết kế thắt lưng. Công việc này đã nuôi ông suốt thời gian học đại học và đem lại cho nhà thiết kế nổi tiếng sau này những cảm nhận đầu tiên về thời trang. Sau khi tốt nghiệp, Gianfranco làm việc ở phòng thiết kế của một công ty nội thất. Ông đã ngừng thiết kế thắt lưng, nhưng Walter Albini, một nhà thiết kế khá nổi tiếng tại Ý đã thuê ông thiết kế trang sức cho cửa hàng của mình. Lần thứ 2, Gianfranco lại đến với thời trang như một nghề tay trái.

 

Năm 1969, vì quá đam mê thời trang, Gianfranco Ferre đã bỏ công việc thiết kế nội thất và bắt đầu trở thành một nhà thiết kế thời trang tự do. Ferre đã từng hợp tác với Lagerfeld và Fiorucci để cho ra những bộ sưu tập thời trang ấn tượng. Từ năm 1970 – 1973, Gianfranco Ferre đến Ấn Độ để nghiên cứu nghề thủ công mỹ nghệ và cách sử dụng màu sắc độc đáo của người bản xứ. Màu sắc và sự khéo léo của những thợ thủ công Ấn Độ đã có ảnh hưởng lớn đến ông.

 

Năm 1973, khi quay về Ý Gianfranco Ferre làm việc cho Franco Mattioli, một nhà thiết kế thời trang nổi tiếng ở Ý. Ở đây, ông đã cho ra đời bộ sưu tập đầu tay của mình: trang phục may sẵn dành cho phụ nữ. Năm 1978, sau 5 năm làm việc cho Mattioli, Gianfranco quyết định thành lập nhãn hiệu thời trang riêng mang tên mình. Những trang phục của Ferre đã gây tiếng vang lớn với sự sang trọng, sự kết hợp màu sắc kỳ lạ cùng với những hình khối rất đặc biệt trong trang phục. Gianfranco rất thành công khi thiết kế đồ may sẵn, đặc biệt là những chiếc áo sơ mi.

 

Những chiếc áo sơ mi dưới sự sáng tạo của Gianfranco Ferre, vừa năng động hiện đại nhưng vẫn hết sức dịu dàng nữ tính. Năm 1982, Gianfranco Ferre bắt đầu cho ra những bộ sưu tập đồ nam. Một lần nữa, sự khỏe khoắn hiện đại trong những trang phục của Ferre lại có sức hút lớn. Năm 1983, khi thương hiệu Gianfranco Ferre đang rất nổi tiếng tại Ý thì Ferre trở thành giáo sư giảng dạy thời trang tại Học viện Domus Ý.

 

Năm 1984, Gianfranco Ferre đã trở thành nhà thiết kế của năm. Ông đã nhận 5 lần giải thưởng này cho những thiết kế dành cho phụ nữ. Năm 1986, Gianfranco Ferre thiết kế bộ sưu tập thời trang cao cấp đầu tiên, một bước tiến trong sự nghiệp của ông. Năm 1969, Gianfranco Ferre được mời là thiết kế chính cho Dior thay thế Marc Bohan.

 

Trong suốt 7 năm, Gianfranco đã thành công khi giữ tinh thần của Dior: Sang trọng và thanh lịch. Ông cũng đưa vào những thiết kế cổ điển của Dior một khuynh hướng hiện đại và mạnh mẽ. Trong thời gian này ông vẫn thiết kế cho nhãn hiệu của riêng mình.

Năm 1996, Gianfranco Ferre rời Dior. Cũng trong năm này ông nhận giải Oscar thời trang của Ý – giải Occhio Doro. Trước đó ông đã 5 lần nhận giải thưởng này. Năm 1997, Gianfranco mở cửa hàng đồ jeans đầu tiên ở Roma đồng thời với cửa hàng thời trang cao cấp Gieffeffe ở Milan. Ở Tokyo, ông đã mở một tuần lễ thời trang của mình và ông tiếp tục mở nhiều showroom ở Mỹ và Pháp. Ngày ngay Gianfranco Ferre đã trở thành thương hiệu nổi tiếng trên thế giới với một phong cách riêng, rất đặc trưng của Ferre.

 

2. Phong cách của Gianfranco Ferre

 

Những phụ nữ mặc quần áo của Ferre thường là những cô gái sắc sảo thông minh. Ông thích phụ nữ ăn mặc với những đường cong nữ tính, trang phục không đối xứng và bó sát nhẹ nhàng. Những thiết kế của ông thường tạo hình khối với dáng vẻ khỏe khoắn mà màu sắc tươi sáng. Có thể gọi Gianfranco là một chuyên gia trong việc sử dụng những màu sắc khắc nghiệt: Đỏ – đen – trắng và vàng.

 

Ông cũng thường sử dụng những chất liệu đắt tiền như lông thú, da và vải bóng. Một kiểu áo mà ông thường thiết kế là sơ mi trắng. Ông luôn làm mới trang phục cứng nhắc này bằng các chất liệu cotton, lụa, hay vải ocgandi yêu thích của ông. Chỉ một chiếc sơ mi trắng nhưng ông thiết kế với nhiều hình dáng rất khác nhau với cổ và tay áo. Ông được coi là vua của những chiếc sơ mi trắng.

3. Vì sao Gianfranco Ferre có phong cách ấy?

 

Trước hết phải nói đến ảnh hưởng lớn từ kiến trúc với những hình khối khỏe khoắn trong cảm nhận của Gianfranco Ferre. Được đào tạo để trở thành kiến trúc sư nhưng Ferre với sự đam mê của mình đã chuyển sang thiết kế thời trang với đôi tay, khối óc của một nhà kiến trúc.

 

Trong khi nhiều nhà thiết kế sáng tạo trong hội họa hay âm nhạc thì Gianfranco Ferre luôn thiết kế với một sự nghiên cứu kỹ lưỡng giống như một kiến trúc sư. Ông phân tích từng chi tiết, nghiên cứu và lên kế hoạch thiết kế. Con đường của sự thông minh khi đến với thời trang đã giúp ông kiểm soát và thể hiện phong cách của mình trong từng đường kim mũi chỉ, từng lớp quần áo.

 

Một điều nữa làm nên phong cách của Gianfranco Ferre đó là đất nước Ấn Độ với những màu sắc ấn tượng và sự khéo léo của những người thợ thủ công. Chỉ 4 năm trên đất nước này nhưng từ đây, màu sắc trong trang phục của Gianfranco Ferre đã trở thành những đường nét đặc trưng trong phong cách của ông.

 

Gianfranco đã tìm ra một con đường học hỏi hoàn toàn khác biệt so với những nhà thiết kế đương thời. Trong khi những nhà thiết kế mơ đến Paris – Pháp, kinh đô thời trang của thế giới thì Ferre tìm đến Ấn Độ, chính điều đó một lần nữa tạo nên nét riêng khác biệt trong những trang phục của Ferre so với những nhà thiết kế đương thời.

 

Gianfranco qua đời ngày 18/6/2007, 1 tuần trước khi bộ sưu tập hè – thu dành cho nam cuối cùng của ông xuất hiện trên sàn diễn Milan.

Theo Mỹ phẩm

Đăng trong Thời trang | Tagged: | Leave a Comment »

“Cuộc hành trình” của chiếc mũ

Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007

Thật khó có để tìm ra thứ phụ trang nào để so sánh với sự đa năng của chiếc mũ. Nó vừa giúp che nắng, mưa, vừa giúp cho quý bà làm điệu và kiêm luôn “nhiệm vụ” tạo nên vẻ lịch lãm của quý ông. Chính vì vậy mà chiếc mũ luôn là nguồn cảm hứng cho vô số trào lưu của thời trang.

Thuở khai sinh, những bộ lạc thổ dân châu Phi thường có thói quen hái lá cây to quấn quanh đầu làm mũ. Sau này, với chiến tích săn bắn được như da hổ, báo, trăn… họ đã biết mang phơi khô để làm nên những chiếc mũ thật bền, có thể làm vật thừa kế cha truyền con nối. Dĩ nhiên, những thổ dân hồi đó chẳng thể nào tưởng tượng được, chính da thú là nguyên nhân của nhiều cuộc đổ máu sau này hòng tranh giành một “chất liệu vàng” cho những kiểu mũ đắt đỏ phục vụ cho một thế giới văn minh khác, sống rất xa những thảm rừng sâu hun hút và những khúc sông đầy cá sấu, thuồng luồng.

Hình ảnh về chiếc mũ đầu tiên được phát hiện trên một ngôi mộ cổ ở vùng sông Thebes vẽ một nam nô lệ đội chiếc mũ hình ống cao. Còn chiếc mũ cho phái đẹp rất có thể được khơi nguồn từ cái nón đội đầu của người phụ nữ Ai Cập. Được biến tấu dưới trang phục Pileus trùm kín từ đầu đến chân của người La Mã, chiếc mũ này thật ra chỉ là những tấm voan hay khăn mỏng quấn tròn quanh mái tóc. Nhưng nếu không có cách làm duyên rất sơ khai này, chắc chắn cái gọi là kỷ nguyên của thời trang mũ không thể ra đời.

 

Đến cuối thế kỷ 16, khi ruy băng và găng tay trở thành vật bất ly thân của phái đẹp thì những chiếc mũ cũng nghiễm nhiên bứt phá để trở thành một thứ phụ kiện thời trang độc lập. Nước Ý, có lẽ là quê hương đầu tiên của những kiểu mũ vải thời trang. Năm 1529, bộ sưu tập mũ vải đầu tiên ở Milan đã khiến cho toàn bộ phái đẹp của thành Roma… thèm muốn.

 

Và từ đó, những chiếc mũ thoát hẳn khỏi chức phận che mưa nắng để tha hồ mà làm duyên. Đầu thế kỷ 19, người ta bắt đầu làm quen dần với dạng mũ “đúc” từ những chất liệu nghe rất lạ tai như giấy các – tông, cỏ và thậm chí là lông ngựa mềm mà ý tưởng xuất phát từ chính người Ý và Thụy Sỹ.

 

Sau đó, mũ tạo thêm cú đột phá khi biến mình thành “kẻ hào hoa” trong những chất liệu xa xỉ như nhung và satin. Nửa đầu thế kỷ 19, đường phố khắp nơi từ London, Paris, Milan kéo dài sang New York, mũ thời trang dành riêng cho phái đẹp thỏa sức dập dìu.

Các quý bà, quý cô luôn xuất hiện ở những chỗ đông người với kiểu mũ lộng lẫy gắn thêm nơ, bông hoa và cả lông vũ trên thành chóp. Người ta ví von hài hước rằng, có thể ăn được cả một bữa tiệc trên đầu của một quý bà tham lam – ám chỉ chiếc mũ đỏm dáng của chủ nhân có quá nhiều chi tiết hoa lá, trái cây rườm rà.

Ngay cả binh đao cũng không ngăn cản được chuyện làm đỏm của những chiếc mũ. Trong suốt Thế chiến thứ nhất, mũ vẫn không ngừng thay hình đổi dạng để chiều chuộng, để thích nghi với các kiểu tóc của phái đẹp. Thay vì để những lọn tóc bồng bềnh nhằm diện kiểu mũ rộng vành, phụ nữ thời kỳ này mạnh mẽ và “ngạo nghễ” hơn với mái tóc cắt ngắn, gần như sát đầu giống đàn ông. Vì thế, kiểu dáng mũ từ từ thu nhỏ lại để ôm vừa khít chiếc đầu thon gọn của những người đẹp. Và thế là vô tình mũ tạo nên một trào lưu thời trang hơn.

Nhưng cuộc can qua cũng có lúc thắng thế. Khi thế giới lâm vào cuộc đại chiến thứ hai, đã có lúc mũ cũng như người phụ nữ mệt mỏi vì bom đạn, chẳng còn muốn nghĩ đến việc thay đổi chính mình nữa. Hậu quả là có một thời gian, thời trang mũ cứ dậm chân một chỗ.

 

Khi thế giới ngưng tiếng súng, nghĩa là vào những thập niên 1980, 1990, mũ lại cùng phái đẹp hãnh diện khoe mình, trong những kiểu dáng thời thượng điểm xuyết nhiều tiểu tiết đắt giá. Người tiên phong cho trào lưu khoe mũ trước đám đông, không ai khác là công nương Diana của xứ Wales kiều diễm. Ở đâu và bất cứ lúc nào, mỗi khi xuất hiện, công nương Diana đều khiến dân chúng ngưỡng mộ bởi những kiểu mũ rộng vành quý phái của nàng. Và lúc đó, người ta mới công nhận những người làm mũ là các nhà thiết kế thời trang chính thống.

 

Từ đó đến nay, mũ đã trở thành một biểu tượng của cá tính. Nếu tính từ thời nó còn là mấy nhành lá quấn quanh đầu thì đến giờ, chiếc mũ đã “đi một hành trình” xa và dài về cả kiểu dáng lẫn phong cách. Và nếu còn có khái niệm thời trang phụ kiện, thì chiếc mũ vẫn sẽ còn “đi” tiếp.

Theo sành điệu

Đăng trong Lịch sử, Thời trang | Tagged: , | Leave a Comment »

Sành điệu… nên biết

Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007

 

Bạn rất thích dùng “đồ xịn” nhưng bạn không chắc lắm bộ quần áo này có vừa với mình không, bởi kích cỡ ghi trên quần áo này của các nước đôi khi không giống nhau. Bảng quy đổi tương đương dưới đây sẽ giúp bạn dễ dàng lựa chọn.

 

Quần áo nam và áo khoác

 

Mỹ: 36, 38, 40, 42, 44, 46

 

Anh: 36, 38, 40, 42, 44, 46

 

Châu Âu: 46, 48, 51, 54, 56, 59

 

Quần áo nữ và váy

 

Mỹ: 8, 10, 12, 14, 16, 18

 

Anh: 10, 12, 14, 16, 18, 20

 

Châu Âu: 38, 40, 42, 44, 46, 48

 

Áo sơ mi

 

Mỹ: 14, 141/2, 15, 151/2, 16, 161/2

 

Anh: 14, 141/2, 15, 151/2, 16, 16,1/2

 

Châu Âu: 36, 37, 38, 39, 41, 42

 

Mẹo “chăm sóc” quần áo

 

- Về mùa hè cổ và tay áo sơ mi trắng thường rất nhanh bẩn, giặt lại lâu sạch. Bạn thử làm theo phương pháp này: sau khi giặt áo, lấy một chút phấn rôm trẻ em rắc lên phần cổ và tay áo, tiếp đó dùng bàn ủi, ủi nhẹ, rồi lại rắc một chút phấn rôm. Lần sau khi giặt, cổ và tay áo sẽ sạch rất nhanh.

 

- Đối với quần áo sau khi mới mua về trong lần giặt đầu tiên, bạn nên ngâm trong nước muối khoảng 10 phút, làm như vậy có thể tránh cho vải phai màu.

 

- Khi nhà bạn bị cúp điện, bạn đến một nơi nào đó không có bàn ủi, bạn có thể “ủi” tạm bằng cách… đổ nước sôi vào ca sắt tráng men rồi di vào những nếp nhăn.

 

- Hàng sợi bông nếu ủi quá tay hơi bị vàng, bạn hãy lấy muối rắc lên, sau đó dùng tay vò nhẹ và phơi ra nắng một lúc, sau đó giặt sạch, vết cháy vàng sẽ giảm đi rất nhiều.

 

- Trang phục bằng lụa tơ tằm thường rất khó ủi, bạn hãy thử cho chúng vào bao nilon rồi cho vào ngăn đá tủ lạnh một lúc, sau mang ra ủi sẽ rất hiệu quả đấy.

NetMode

Đăng trong Thời trang | Tagged: , | Leave a Comment »

Coco Chanel – bí mật một huyền thoại

Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007

 

Câu chuyện về bà là huyền thoại về một “đế chế thời trang” được xây dựng nên bởi nỗ lực phi thường, quá trình làm việc không biết mệt mỏi với ngọn lửa sáng tạo dường như không bao giờ tắt.

 

Gabrielle “Coco” Chanel được coi là một trong những người phụ nữ có ảnh hưởng lớn nhất trong làng thời trang thế kỷ 20. Bà đã tạo nên rất nhiều kỳ tích trong cuộc đời mình cũng như tạo lập nên nhiều xu hướng thời trang mới, những xu hướng mà giới trẻ ngày nay vẫn coi đó là một chuẩn mực khó có thể thay đổi.

 

Dior đã nói rằng “Với chiếc áo len chui cổ màu đen và mười vòng hạt trai cuốn quanh cổ, Chanel đã cách mạng hóa thời trang”. Chanel không chỉ biết đến bởi “bộ váy đen bé nhỏ” và nước hoa Chanel No.5, mà bà còn nổi tiếng bởi những bộ trang phục, những đôi giầy, những đồ trang sức, những chiếc túi, ví cổ điển và luôn thời trang. Những thiết kế của bà đã giúp cho việc định hướng rõ ràng thời trang phụ nữ trong thế kỷ 20.

 

Gabrielle Chanel sinh ra tại Saumur, Pháp vào năm 1883, Coco là biệt danh được đặt sau này. Chanel đã khẳng định rằng bà là con duy nhất trong gia đình trong khi đó mẹ bà, bà Jeanne Devolle đã có tới 5 người con. Chanel và chị gái Julie là con hoang của Albert Chanel và Jeanne Devolle. Họ đã cưới nhau sau khi Chanel được sinh ra. Sau khi cưới họ đã có thêm 3 người con nữa Alphonse, Antoinette và Lucien. Vào tháng 2 năm 1895, sức khỏe của bà Jeanne ngày càng đi xuống và bà mất vào tuổi 32.

 

Tuổi thơ còn lại của Chanel là chuỗi ngày ở trong một trại trẻ mồ côi. Những người họ hàng của Chanel đã không thể bảo bọc được bà và bốn anh chị em của bà. Khi Chanel và Julie về nhà trong ngày lễ, họ đã ở nhà Henri Adrien và Virginie, những người họ hàng bên họ mẹ. Tại đây, lần đầu tiên Chanel đã gặp em ruột của mẹ – dì Adrienne. Họ bằng tuổi nhau và nhanh chóng trở thành những người bạn thân thiết nhất. Họ quá gần gũi đến mức nhiều người đã ngỡ rằng họ là chị em gái.

 

Chanel đã không bao giờ nói về khoảng thời gian của bà tại Aubazine, cái trại trẻ mồ côi mà bà đã ở đó. Khi được hỏi về khoảng thời gian này, Chanel chỉ nói đơn giản rằng bà sống với rất nhiều người dì mà bà nghĩ rằng họ không thích bà lắm. Chanel đã khẳng định rằng: “Tôi sẽ thật vô ơn nếu nói rằng đó là những bà dì “ghê tởm” bởi tôi đã nợ họ mọi thứ. Một đứa trẻ nổi loại ngày đó đã trở thành một người mạnh mẽ và kiên cường. Đứa trẻ đó có thể yếu ớt và không hạnh phúc nếu nó nhận được quá nhiều nụ hôn, quá nhiều sự chăm sóc, quá nhiều sự dạy dỗ và quá nhiều chất bổ dưỡng. Những bà dì ích kỷ và xấu xa đó đã làm cho nhiều đứa trẻ trở nên rất tự ti trước cuộc đời nhưng trong trường hợp của tôi kết quả lại ngược lại, cách đối xử của họ đã nâng cao thêm lòng tự tôn của tôi. …”

 

Khi Gabrielle Chanel 20 tuổi, bà và Adrienne đã cùng vào làm tại một cửa hàng quần áo nhỏ nhưng đắt khách có tên là The House of Grampayne.

 

“Coco” là cái gì?

 

Vào mùa hè năm bước vào tuổi 21, Chanel đã chuyển đến căn hộ riêng của bà ở Moulins. Adrienne ở cùng bà. Năm đó, hai người bắt đầu hẹn hò với những trung úy hải quân mà Chanel đã tình cờ làm quen khi đang bán hàng. Những chàng trai này đã đưa hai bà tới La Rotonde, một nhà hát opera nổi tiếng. Không ai biết có phải do sự thuyết phục của các chàng lính hải quân hay là thực chất là do Chanel mà ông giám đốc nhà hát La Rotonde đã thuê Chanel làm ca sĩ. Một trong những bài hát mà Chanel thể hiện là về một phụ nữ đã mất con chó của bà ta với cái tên “Coco”. Từ đó Chanel đã có một biệt danh rất nổi tiếng “Coco”, một cái tên ghi dấu ấn rất sâu đậm trong làng thời trang sau này.

 

Vào tháng 8 năm 1908, Coco bước sang tuổi 25, bà đã có một chuyến du ngoạn tới Pyrenees. Nơi đây Coco đã gặp tình yêu đầu tiên của mình là Arthur Capel, một người rất giàu có với biệt danh được nhiều người biết đến là “Boy”. Trong giai đoạn này, Coco đã nói với Boy rằng “Em sẽ chỉ biết được rằng em có yêu anh hay không khi em không cần anh thêm nữa”. Bà nhận ra rằng, một người phụ nữ phải sống dựa vào những người đàn ông thì thật là tẻ nhạt.

 

Trong suốt mùa hè của năm 1913, Boy và Coco đã sống ở Deauvil, một khu nghỉ dưỡng. Coco đã mở một cửa hiệu trên một trục đường phố chính nơi mà bà đã bán những thiết kế của bà, bao gồm những chiếc áo len dài tay cao cổ và những chiếc mũ. Cửa hiệu này được Boy trả tiền thuê.

 

Cửa hàng quần áo của Coco nằm giữa khách sạn Normandy, sòng bạc và biển. Coco đã đặt một mái hiên màu trắng trên đó bà đặt chữ “Gabrielle Chanel”. Coco treo đầy cửa hàng những thiết kế mới của bà. Những bộ quần áo của bà thường rộng, tự nhiên và có gam màu tối. Bà yêu thích những bộ váy dài với những đồ trang sức thanh nhã. Giới nữ cũng rất thích chúng.

 

Coco đã đi đúng đường

 

Coco đã làm nên một cuộc cách mạng trong thế giới thời trang. Mọi người yêu quý bà. Cocco ngày càng trở nên rất thanh mảnh và cao lên vì vậy tất cả khách hàng của bà đều cố gắng giảm cân để trông giống bà. Coco cắt ngắn mái tóc của mình và trông bà giống hệt như một cậu con trai trẻ tuổi. Tất cả các khách hàng của bà đều rất mê thích kiểu tóc đó. Rất nhiều bộ váy liền của Coco, vừa vặn ôm lấy thân hình dong dỏng cao, rất dài, với đường eo thấp đã trở thành vẻ đẹp chuẩn mực của nhiều phụ nữ thời đó.

 

Vào ngày 15 tháng 7 năm 1915, Coco mở một cửa hàng thời trang tại Biarritz. Giờ đây bà đã có ba cửa hàng tại Rue Cambon, Paris và Biarritz. Coco phụ trách hoàn toàn mảng nguyên liệu và các thiết kế của cả ba cửa hàng thời trang đó.

 

Loại vải đầu tiên của Coco là loại dệt len, loại sản phẩm rất thuận tiện và ôm người nhưng nó không phải là loại vải thích hợp cho những bộ quần áo thời trang. Tuy nhiên bà đã kết hợp với nó rất nhiều loại “phụ tùng” đi kèm như những dây ngọc trai, những chiếc túi xách tay may trần, đôi giầy gót thấp màu ngà xỏ ngón với mũi giầy màu đen, và tất nhiên là sự kết hợp giữa đồ trang sức và quần áo thể thao.

 

Trong suốt những năm 20 đầy biến động, thời trang của Chanel đã trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Chúng đã tạo ra một lời tuyên bố: “Hãy nhìn xem, Tôi trẻ trung và xinh đẹp”. Đó là khoảng thời gian mà những chiếc váy được cắt ngắn hơn và đường eo hạ thấp xuống. Sau đó Chanel giới thiệu “chiếc váy đen bé nhỏ”. Một thiết kế được coi là “kỳ quan” của giới nữ trong thập niên đó, nó kéo theo một cơn sốt mê say những đôi chân dài và những khhuôn mặt quý phái nổi bật nhờ “chiếc váy đen bé nhỏ” đó.

 

Lúc này, phong cách của Chanel đã được định hình với hàng dệt len cổ điển và bộ đồ len và ” chiếc váy đen bé nhỏ”. Từ cơ sở vững chắc này, bà đã cho ra đời hàng loạt những thiết kế mới, những bộ sưu tập mới.

 

Coco đã tin rằng tất cả sự chuyển động của cơ thể con người bắt đầu từ phía sau lưng và mọi thứ là trên những đôi vai. Coco thiết kế cho mọi mẫu hình cơ thể, thanh mảnh hay nặng nề. Bà đã tạo nên những bộ quần áo mà phụ nữ có thể vận động thoải mái đôi tay, chơi gôn và có thể uốn cong người để cài dây giầy. Bà đã đã nhấn mạnh rằng “Tạo sao tôi lại quá chú trọng đến việc xác định những cái cầu vai sao cho nó phù hợp? Phụ nữ có những cái vai rất tròn và khi chuyển động nó thường nhẹ nhàng đẩy lên phí trước, điều đó tác động rất mạnh đến các thiết kế của tôi bởi tôi nghĩ rằng phải thiết kế được một thứ phải không được che dấu nó đi. Sau đó, một số người đã nói với tôi rằng những cái cầu vai nên để ở đằng sau. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một người phụ nữ có cái vai ở đằng sau lưng cả”

 

Tiếng tăm của Coco lại càng “nổi như cồn” khi bà tung ra sản phẩm nước hoa ghi dấu ấn của tiêng mình, Chanel No. 5, một loại nước hoa độc nhất vô nhị. Trước đó, chưa có ai quan tâm đến việc tạo ra những loại nước hoa có mùi khác mùi hoa thiên nhiên, nhưng Coco đã thay đổi điều đó. Chanel No. 5 có mùi của xạ hương và sự ấm áp của của hương gỗ.

 

Vào năm 1931, Samuel Goldwin đã thuê Chanel 1 triệu USD để thiết kế trang phục cho các ngôi sao của ông, trong đó có Kathrine Hepburn, Grace Kelly, Elizabeth Taylor và Gloria Swanson. Mặc dù vậy, điều này kéo dài trong thời gian rất ngắn bởi vì rất nhiều ngôi sao mới nổi đã từ chối trang phục của Chanel.

 

Vào giai đoạn đầu của chiến tranh thế giới thứ 2, giai đoạn khó khăn chung của toàn thế giới. Công ty của Chanel bắt đầu đi xuống. Bà mất rất nhiều tiền. Chanel giải quyết vấn đề này bằng việc đóng các cơ sở kinh doanh thời trang. Hơn thế nữa bà còn để tình trạng này tồi tệ hơn bằng việc hẹn hò với một đảng viên Đức quốc xã, Hans Gunther Von Dincklage. Mối quan hệ này chẳng giúp gì cho bà mà lại làm cho bà trở nên tuột dốc thảm hại trong thế giới thời trang. Và trên hết bà đã làm mất đi sự trân trọng của khách hàng đối với mình.

 

Năm 1939, Chanel cho đóng cửa hàng thời trang lại. Càng ngày bà càng thấy bà đơn độc hơ. Cuối cùng, bà đã từ bỏ mọi quyền lực của mình đối với công ty nước hoa của bà và đã bán lại cho anh em nhà Wertheimer, những người mà ngày nay vẫn đang sở hữu công ty

 

Năm 1954, Chanel đã có một sự quay trở lại rất thành công. Bà ra quyết định này bởi hai lý do: đầu tiên là doanh số nước hoa của bà đang giảm sút và các cố vấn tài chính của bà đưa ra lời khuyên rằng một buổi mở cửa trở lại của Salons de Couture của bà sẽ giúp cho doanh số bán nước hoa tăng lên. Thứ hai: xu hướng được ưa thích của thời trang năm 1954 rất tương đồng với những trang phục mà bà đã đưa ra rất thành công 6 năm trước đó – thời điểm bà bắt đầu sự nghiệp.

 

Ngày 5 tháng 2 năm 1954, Chanel thông báo rằng bà sẽ có một buổi trình diễn bộ sưu tập đầu tiên kể từ sau chiến tranh. Đêm trình diễn đó, bào đã không dám xuất hiện trước bạn bè mà ngồi xem các người mẫu trình diễn từ trên cầu thang gác. Bà thực sự lo sợ mọi người sẽ không chấp nhận và không tha thứ cho bà. Nhưng Chanel đã nhầm, thế giới thời trang nồng nhiệt chào đón bà trở lại.

 

Cho dù đó là những bộ đồ của thập kỷ 30 hay 60 hoặc một “thiên niên kỷ” trang phục thì những bộ trang phục cổ điển của Chanel luôn đứng ở hàng cao nhất. Ngày nay, giá trung bình cho một bộ trang phục của Chanel là 5.000 USD và chỉ có thể mua được ở những cửa hàng của Chanel hoặc shop cao cấp như Saks Fifth Avenue.

 

Khi Chanel 71 tuổi, bà đã mở lại cửa hàng tại Paris và nhanh chóng thử nghiệm một loại trang phục mới, không cổ, có đường viền, làm bằng vải len và và tuýt. Mặc dù thời trẻ bà phản đối việc sử dụng trang sức đi kèm trang phục, nhưng trong những mẫu trang phục này bà luôn kết hợp chúng với bộ dây chuyền hoặc những chuỗi ngọc trai.

 

Coco mất tại Paris vào ngày 10 tháng 1 năm 1971. Sau cái chết của bà, Karl Lagarfeld đã tiếp quản toàn bộ công việc kinh doanh của bà. Ngày nay, ông vẫn cho ra mắt những bộ sưu tập có tên Chanel.

 

Mãi đến tận bây giờ, phụ nữ trên khắp thế giới vẫn đang mua những “bộ váy đen bé nhỏ” và những bộ trang phục bằng vải tuýt mà Chanel đã làm nên tiếng tăm lừng lẫy. Phong cách của bà đã ảnh hưởng tới trang phục của nhiều người phụ nữ trong suốt sự nghiệp của bà và cả sau khi bà đã mất. Thời trang của bà vẫn sống ngay cả khi bà không còn nữa.

 

Karl Lagerfeld – Người kế thừa hoàn hảo

Sau khi Coco Chanel qua đời, Karl Lagerfeld trở thành người thiết kế chính của hãng Chanel. Ông đã làm thỏa mãn kỳ vọng những con tim mộ điệu thời trang Chanel. Với những bộ thiết kế vẫn mang đậm phong cách Coco Chanel nhưng được cách tân để phù hợp với thực tiễn.

 

Một thành tựu không thể không nhắc đến của Karl Lagerfeld chính là ông đã thành công khi thay đổi những gương mặt đại diện cho Chanel. 2004 ông chọn nữ diễn viên điện ảnh Nicole Kidman làm đại diện mới cho nhãn hiệu nước hoa No.5; Ligne Cambon đại diện cho giỏ xách và nữ minh tinh Pháp, Vanessa Paradis đại diện cho các dòng trang sức, mỹ phẩm của Chanel. Sự thay đổi này đã thổi một làn gió mới cho Chanel có thời gian đã bị đánh giá là tụt hậu so với các hãng thời trang khác. Sự quyết đoán, tài năng và khả năng phán đoán nhanh nhạy của Karl Lagerfeld đc giúp cho Chanel đứng vững và phát triển vượt bậc cho đến ngày nay.

 

Logo và tên nhãn hiệu

 

Logo của Chanel được thiết kế bởi Gabrielle Chanel. Đó là 2 chữ C hoa đối lập và móc chung lại với nhau, mang ý nghĩa là… Coco Chanel, tên của người sáng lập. Logo ra đời nhanh chóng được đón nhận vì nó thể hiện được tính thời trang cũng như phương châm của Chanel: “Back to Basic”, vừa đơn giản vừa qúy phái, sang trọng.

 

Khi nhắc đến Chanel, mọi người liên tưởng ngay đến nhãn thiệu thời trang cao cấp, quý phái và sang trọng. Ngoài ra, sẽ thật là thiếu sót nếu không nhắc đến nhãn hiệu nước hoa mà mùi hương của nó đã trở thành kinh điển: Chanel No.5!

 

No. 5 là nhãn hiệu đầu tiên bà chế tạo, tiếp theo đó là các dòng nước hoa No. 22, No. 19… Coco Chanel chưa bao giờ giải thích lý do vì sao bà lại đặt tên như vậy. Nhưng có một điều là ai cũng biết, con số mà Coco yêu thích nhất là con số 5.

 

 

Theo NETMODE

Đăng trong Thời trang | Tagged: , | Leave a Comment »

Levi và thương hiệu Levis

Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007

 

Năm 1853, Levi Strauss đến San Francisco bán quần áo và vải. Thực ra không phải là các sản phẩm chăn mềm và khăn trải bàn làm cho Levi trở nên nổi tiếng với thương hiệu tồn tại hơn 150 năm, mà thực ra là những chiếc quần Les do thợ mỏ ở California lần đầu tiên mặc. Levi đã bán sản phẩm này trên thị trường và trong suốt các thập niên tiếp theo chúng là sản phẩm được yêu thích trên toàn thế giới – những chiếc quần bò màu xanh.

 

Mọi người đều mặc chiếc quần Levis, từ những chàng cao bồi bị quên lãng ở miền Tây nước Mỹ đến những người trẻ tuổi ở bên bờ bức tường Beclin bị đổ. Các thế hệ mặc chiếc quần Levis và coi đây là một biểu tượng của sự tự do, độc lập, trẻ trung.

 

Sự tích… Levis

 

Những năm 1850, San Francisco còn trong thời chiến tranh. Người dân lũ lượt kéo nhau bỏ thành phố để tìm vận may ở các vùng đào vàng. Năm 1853, lúc này Levi Strauss mới chỉ 24 tuổi đến San Francisco để mở chi nhánh bán quần áo cho anh trai tại các vùng ven biển miền Tây. Đầu tiên Levi bán quần và áo, cũng như là khăn tay và phụ tùng cho quần áo. Một trong những khách hàng mua vài phụ kiện cho quần áo là một thủy thủ tên là Jacob David đến từ Nevada.

 

Jacob có một khách hàng luôn luôn làm rách quần và vợ anh ta cũng yêu cầu Jacob làm cách nào đó để chiếc quần không bị rách nữa. Vì những chiếc đinh tán bằng đồng sẽ làm cho túi quần chắc thêm, nên Jacob đã may thêm chúng vào các đường mép của quần như góc túi quần và đường may cuối cùng của chiếc khuy quần, và Jacob đã có một sản phẩm độc đáo.

 

Khi Jacob không thể chi trả được 68$ tiền đăng kí bản quyền, Jacob đã viết thư tay cho Levi đề nghị cả 2 cùng trả khoản tiền này. Levi một nhà kinh doanh khôn ngoan, nhanh chóng nhìn thấy tiềm năng của món hàng mới mẻ và hào hứng chớp lấy thời cơ này. Năm 1873, Levi và Jacob nhận được giấy đăng kí bản quyền, họ đã cùng nhau sản xuất ra những chiếc quần bò màu xanh có đinh tán bằng đồng được biết đến tận ngày hôm nay.

 

Trong một thời gian ngắn, tất cả người lao động đều mua loại quần mới này và đã lan rộng khắp nơi với câu nói “đây là quần Levis và độ bền của nó thì không loại nào sánh kịp”. Khoảng năm 1890, những chiếc quần này được đánh số là “501″. Cùng với thời gian, chiếc quần yếm LevisR nhanh chóng phổ biến khắp nơi và Levi Strauss & Co cũng nổi tiếng với sản phẩm độc đáo và các hoạt động kinh doanh.

 

Người đàn ông nhân đức

 

Levi là một người đặt nền tảng cho công ty, ông chỉ bán sản phẩm tốt nhất với giá cả phải chăng. Ông đối xử với nhân viên rất tốt và nghiêm khắc. Và ông cũng thường thể hiện trách nhiệm của mình đối với xã hội. Trong suốt cuộc đời mình Levi Strauss hào phóng ủng hộ tiền cho các tổ chức xã hội, ông nổi tiếng là người rộng lượng và đặc biệt quan tâm đến thế hệ trẻ. Trong những năm đầu tiên ở San Francisco và ngay cả khi ông bắt đầu làm công việc kinh doanh, Levi tặng 5$ cho trại mồi côi San Francisco (tương đương với hơn 100$ hiện nay).

 

Cho đến tận sau này ông vẫn tiếp tục làm việc thiện và năm 1902, trước khi chết, Levi đã để lại 28 suất học bổng cho trường đại học Berkeley, California. Nhiều báo đã đưa tin về cái chết của Levi trên trang nhất và dòng tít trên báo San Francisco viết: “Levi Strauss nhà thương nhân và nhà nhân đức, chết một cách bình yên tại nhà”. Levi không chỉ là người đưa chiếc quần bò xanh đến với thế giới, ông còn là tấm gương về đạo đức trong giới lãnh đạo kinh doanh có trách nhiệm với xã hội.

 

Hành động đối xử tốt với xã hội của Levi Strauss vẫn tiếp tục kéo dài. Hơn 50 năm sau, quỹ Levi Strauss vẫn tiếp tục ủng hộ và làm cho xã hội thay đổi. Ngay từ ngày khởi đầu, tổ chức đã chi hàng chục triệu đô la cho các hoạt động từ thiện khắp thế giới, giúp đỡ các gia đình khó khăn.

 

Sự đổi mới ở thế kỉ 20

 

Mỗi bộ quần áo, kể cả bộ thời trang hay truyền thống, đều là một phần trong di sản của Levi Strauss. Trong thế kỉ 20 này những chiếc quần jeans truyền thống được khôi phục lại bằng loại vải bò mới có tên là LevisR Type 1TM Đường may được làm nổi bật đậm, những chi tiết đặc trưng của chiếc quần LevisR được làm to ra: khuyết bằng đồng, nhãn đỏ, miếng da thật hình 2 con ngựa và đường may trên túi sau giống như cánh chim. Thế giới thời trang nhanh chóng đón nhận dòng sản phẩm này bao gồm quần LevisR Engineered JeansTM và quần LevisR Superlow…

 

Đến gần đây nhất dòng sản phẩm LevisR Copper ra đời đã thực sự gây được sự cuốn hút. Tinh thần sáng tạo chung của dòng sản phẩm này là sự quyến rũ thô ráp. Mang đậm tinh thần cổ điển, qua những đường nét khéo léo tỉ mỉ, những chiếc đinh tán to bản bằng đồng, chi tiết da thô và sự hoàn thiện kiểu cũ như bày tỏ sự kính trọng tới những chiếc quần jeans có đinh tán đầu tiên được phát minh ra hơn 130 năm trước. Đường may viền màu đồng sáng ở túi nhỏ phía ngoài làm nổi bật lên đường cong đặc trưng của Levis, những đường cong may nối chịu áp lực ở cạnh quần. Những chiếc cúc và đinh tán dòng Copper được sử dụng cũng nhuộm màu đồng theo một môtíp thống nhất.

 

Sản phẩm chính của dòng này là các loại quần jeans với túi sau may nghiêng và túi trước may hình mũi xẻng một cách tinh vi. Miếng da thật có in hình 2 con ngựa đặc trưng cho nhãn hiệu Levis cũng được làm theo kiểu không cân xứng. Những chiếc quần được hoàn thiện theo kiểu cổ với tông màu từ trung tới tối, phủ ra ngoài màu đỏ của chất vải. Những đường chỉ không cắt hết, các vết nhăn và những mảng miếng rời như sự cẩu thả đều lại là sự hữu ý mang đến sự tương phản tinh tế cho dòng Copper. Khâu hoàn thiện cũng mang cái tên lấy cảm hứng của những chàng cao bôi miền Tây như Orange Country, Gold Rush, American Cowboy.

 

Từ một chiếc quần bò và đến nay vẫn là chiếc quần, nhưng Levis vẫn không ngừng sáng tạo để chiếc quần thương hiệu Levis trở thành phong cách và kinh nghiệm sống cho người sử dụng chúng. Riêng đối với những tín đồ của mốt, sở hữu sản phẩm của Levis còn thể hiện đẳng cấp và sự am hiểu về thời trang.

 

Theo YÊU THỜI TRANG

Đăng trong Thời trang | Tagged: , | Leave a Comment »

Gucci: Nhãn hiệu của sự tinh tế

Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007

 

Từ lâu, nhãn hiệu Gucci được biết đến như một nhãn hiệu cao cấp của giới thượng lưu say mê cái đẹp. Những mẫu túi da, giày, thắt lưng… của Gucci luôn mang đến sự mới lạ, với kiểu dáng tinh tế và hợp thời trang.

 

Guccio Gucci người tạo nên biểu tượng thời trang mới

 

Guccio Gucci, người sáng lập ra nhãn hiệu Gucci đã bắt đầu cửa hàng da và túi xách đầu tiên của mình tại thành phố quê hương Florence vào năm 1921. Trải qua nhiều năm làm việc tại khách sạn Savoy London, ông đã lĩnh hội được khiếu thẩm mỹ tinh tế của giới quý tộc Anh, và đã giới thiệu được đặc tính này thông qua các sản phẩm hàng da cao cấp được làm từ các nghệ nhân về da thuộc vùng Tuscan.

 

Vài năm sau, nhãn hiệu Gucci đã thành công nhờ thu hút được sự quan tâm của các khách hàng thượng lưu sành điệu với bộ sưu tập: túi xách, gậy, găng tay, giày và dây lưng cho những người cưỡi ngựa. Kiểu dáng bàn đạp và mõm ngựa đã nhanh chóng trở thành biểu tượng của nhà thời trang và của cái đẹp đầy sáng tạo không ngừng.

 

Do đối mặt với nguồn nguyên liệu thiếu hụt vào những năm 1940 trong chế độ độc tài phát xít ở Ý, Gucci đã tạo dựng một hình ảnh thương hiệu mới mang tính sáng tạo và xoay xở cao. “Túi xách bằng tre” đã trở thành một trong những dòng sản phẩm đặc trưng đầu tiên của Gucci, và cho đến nay loại túi xách này vẫn còn được sản xuất và sử dụng.

 

Vào những năm 1950, nhãn hiệu màu xanh lá – đỏ được tạo nên từ hình ảnh đai yên ngựa, đã thành công mỹ mãn và trở thành một trong những biểu tượng đặc trưng quen thuộc nhất của thương hiệu. Đồng thời, Gucci lần lượt khai trương các cửa hàng sang trọng ở Milan, New York, London, Palm Beach và Beverly Hills để tạo dựng thương hiệu hàng đầu như một biểu tượng của sự sang trọng hiện đại.

 

Năm 1953, Guccio Gucci qua đời, các con trai ông là Aldo, Vasco, Ugo và Rodolfo tiếp tục kế thừa công việc kinh doanh của cha mình.

 

Nhãn hiệu của vật liệu cao cấp và sáng tạo

 

Sản phẩm của Gucci luôn được ưa chuộng trên toàn thế giới và trong một thời gian dài, nhãn hiệu này biểu tượng cho những nhân vật tên tuổi và ngôi sao điện ảnh lớn như Jackie Onassis, Elizabeth Taylor. Thiết kế của giày da với chi tiết hàm thiếc ngựa một thời là bộ sưu tập tại Viện Nghiên Cứu Thời Trang Metropolitan cũng như Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật tại New York. Khăn choàng in bông bằng lụa cũng được thiết kế dành cho cô đào Grace Kelly nổi tiếng một thời và sau này là hoàng hậu Monte Carlo.

 

Vào cuối thập niên 60, Gucci chính thức đưa nhãn hiệu hai chữ “G” đôi vào thế giới huyền thoại của mình. Tiếp tục việc truyền bá thương hiệu ra toàn cầu vào những năm thập niên 70, đưa thương hiệu vào khu vực châu Á như Hongkong và Tokyo.

 

Gucci tiếp tục tăng tính đa dạng của sản phẩm, chú trọng việc tìm kiếm những mẫu mã đặc biệt dựa trên những vật liệu cao cấp và thiết kế sáng tạo, nhằm tạo ra thương hiệu về chất lượng và kiểu dáng tinh xảo. Những mẫu mã cổ điển được thay đổi lại với hình dáng và màu sắc phù hợp, đồng thời giới thiệu ra những dòng sản phẩm mới.

 

Làn gió mới

 

Năm 1981, con trai của Rodolfo – Maurizio Gucci nắm quyền quản lý công ty. Đồng thời, Demenico De Sole trở thành chủ tịch của Gucci America vào năm 1984.

 

Gucci lại tái tiến hành cuộc chinh phục toàn cầu bằng chiến dịch kết hợp giữa truyền thống và cách tân. Năm 1994, Tom Ford trở thành giám đốc thiết kế của Gucci. Và tư tưởng khiêu khích, dám đương đầu với thách thức được thể hiện qua các kiểu dáng giày gót nhọn và áo đầm bằng thun jersey ôm sát người, trang trí thêm những chi tiết kim loại lóng lánh. Những mẫu thiết kế này đã tạo dựng nên tên tuổi và biểu tượng của ông.

 

Năm 1990, Domenico De Sole được bổ nhiệm vào vị trí Giám đốc điều hành và vào năm 1999, Gucci là công ty đa thương hiệu trên toàn thế giới.

 

Sau khi Domenico De Sole từ chức vào năm 2004, Mark Lee chính thức nắm vị trí Chủ tịch và Giám đốc điều hành năm 2005. Kể từ đó, cô Frida Gianni – Giám đốc sáng tạo đã cùng với Gucci khai thác thương hiệu qua dòng sản phẩm mới “La Pelle Guccissima”.

 

Năm 2006, Gucci đánh dấu 85 năm có mặt trên thị trường và đã xuất bản cuốn sách đặc biệt dày 450 trang, giới thiệu về một hành trình hướng về lịch sử và truyền thống. Khẳng định sự trung thành với kiểu dáng sang trọng, kết hợp kỹ thuật tinh xảo cầu kỳ của Ý để tạo nên sản phẩm đẹp hoàn hảo.

 

(theo Mỹ Thuật)

Đăng trong Thời trang | Tagged: , | Leave a Comment »

Louis Vuitton: 150 năm một tôn chỉ

Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007

 

Qua 150 năm tồn tại, hãng chuyên sản xuất các loại rương, hòm đặc biệt dành cho các chuyến đi xa này vẫn luôn tuân thủ tôn chỉ của người sáng lập: Ông Louis Vuitton. Hãng đã phục vụ các khách hàng nam giới của mình bằng những sản phẩm đặc biệt và độc đáo nhất trên thế giới, từ những dụng cụ đựng đồ nghề đi câu, đồ nghề xe đạp cho đến một ”hầm rượu di động”. Louis Vuitton luôn biết đáp ứng những đòi hỏi ”thất thường” của thân chủ.

 

Từ những chiếc rương nhỏ cho đến túi xách Keepall và cả những sản phẩm mới nhất như Ballaix, hãng Vuitton vẫn luôn ghi nhớ lời nói của Patrick Louis Vuitton: ”Điều quan trọng nhất là phải biết đưa những giá trị cá nhân của từng khách hàng theo chân họ trong những chuyến đi xa, và trong một môi trường tiện nghi nhất”.

 

Nếu như qua các catalog hay đến các cửa hiệu trưng bày, công chúng khắp nơi có thể khám phá được những gam màu độc đáo trên những đường nét cổ điển của những sản phẩm bằng vải Monogram, Epi, Taiga, Damier hay đến những bộ sưu tập Marc Jacobs, thì khi được tiếp xúc trực tiếp với bộ phận phụ trách về đơn đặt hàng, họ sẽ có một cái nhìn thấu đáo hơn về các bí mật của doanh nghiệp này. Không phải ngẫu nhiên mà cho đến ngày nay, một hậu duệ của sáng lập viên Patrick Louis Vuitton vẫn phụ trách việc điều hành công việc. Đó là một người biết phối hợp hài hoà giữa một bên là tinh thần trách nhiệm và bên kia là tài ngoại giao trong kinh doanh, dù tại một quán rượu ở Nhật hay trong một xưởng sản xuất tại Asnieres (Paris).

 

Sản phẩm thiết kế theo đơn đặt hàng

 

Vuitton là nơi sản xuất các sản phẩm ưu tiên dành cho quý ông. Có đến 70% đơn đặt hàng là của nam giới. Đó là những người thường xuyên đi công tác xa, các diễn viên, nhạc sĩ và các doanh nhân. Có những khách hàng là những người phải xa nhà 200-300 ngày/năm. Do đó, hành lý mà họ đem theo phải được chuẩn bị sao cho gọn nhẹ nhưng phải thật sự hữu dụng, bao gói phải ‘’siêu bền” về mặt cơ học, và đặc biệt là phải được thiết kế phù hợp với tính cách, lối sống và chức năng nghề nghiệp của họ.

 

Từ đó, đã có những đơn đặt hàng cho những sản phẩm rất độc đáo, có một không hai, đến từ những khách hàng có trí tưởng tượng phong phú nhất. Chúng ta có thể thấy một chiếc ”tủ” đựng 1.000 điếu xì gà cho một khách hàng người Mỹ, hay một chiếc ”tủ di động” cho 72 chiếc áo sơmi, các bộ sưu tập bật lửa, đồng hồ đeo tay, nút áo manchette của một thương gia người Ý. Vị khách hàng này đã yêu cầu các ngăn kéo đựng đồng hồ và bật lửa phải được thiết kế sao cho có thể đưa được vào các ngăn tủ nhỏ của khách sạn!

 

Và cũng có một cặp vợ chồng đã đặt làm một cái ”tráp” chỉ dùng để đựng 2 chiếc ly pha lê uống champagne. Những sản phẩm theo yêu cầu này thường rất đặc biệt. Nhưng dù thiết kế như thế nào đi chăng nữa, tôn chỉ Vuitton là không bao giờ cho ra đời những sản phẩm quá lố bịch, dị thường.

 

Và còn một bí mật rất … bí mật này nữa: đó là những rương chứa tài liệu 2 tầng đáy và những chiếc vali đặc biệt do các cơ quan an ninh đặt hàng. Đó là những sản phẩm mà chúng ta sẽ không bao giờ được biết đến. Và những chiếc vali có mã số khoá của quý ông mới mở được mà thôi. Chiếc chìa của quý bà, dù biết được mã số đó, vẫn không tài nào mở được!

 

Các sản phẩm từ những giấc mơ

 

Giữ bí mật, đó là phương châm lâu đời của Vuitton. Vì thế mà trong thập niên 20, Vuitton đã lưu giữ trong kho hàng của mình những chiếc vali của những người tình mà các quý ông dẫn theo trên những chiếc du thuyền của mình: một sự cẩn trọng hoàn hảo! Hơn nữa, mỗi một khách hàng của Vuitton là một sở hữu chủ của một mã số khoá riêng mà không một ai khác có thể biết được.

 

Để kỷ niệm 150 năm ra đời và phát triển, Vuitton đã tổ chức một cuộc thi thiết kế mang tính nội bộ, với chủ đề là những đơn đặt hàng đặc biệt. Cuộc thi này là nơi tập trung của gần 1.600 đề tài thiết kế ngộ nghĩnh, đầy chất lãng mạng của những người theo trường phái vị lai (futurisme). Chúng ta có thể thấy ở đó một ”tổ hợp hành lý” cho những chuyến đi lên sao Hoả hay một sản phẩm chuyên dành cho các nhà thám hiểm, có gắn vòi hoa sen nước nóng dùng năng lượng mặt trời. Và đặc biệt, thu hút sự chú ý nhất có lẽ là một đề tài đầy trí tưởng tượng của một phụ nữ Pháp tên là Karine Larretgere: một tổ hợp các phương tiện và dụng cụ cần thiết cho một sinh hoạt dã ngoại trên đồng cỏ.

Theo Netmode

Đăng trong Thời trang | Tagged: , | Leave a Comment »

Hàng hiệu đắt vì sao?

Đăng bởi HằngNga on Tháng Mười Hai 19, 2007

ST - Hàng hiệu đắt vì sao?

Có người hào phóng cho rằng, tất cả những sản phẩm nào có thương hiệu trên thị trường đều là hàng hiệu. Hoàn toàn sai lầm khi suy nghĩ đơn giản như vậy.

Hàng hiệu, hiểu một cách chung chung, là những sản phẩm có thương hiệu, đắt tiền, được sản xuất với một số lượng nhỏ, chỉ nhằm phục vụ một tầng lớp nhất định nào đó. Họ phải là người có hiểu biết, có văn hóa và thu nhập cao. Họ thuộc tầng lớp thượng lưu, có ảnh hưởng và phong cách sống riêng.

Nói như thế, không phải là không hội tụ đầy đủ những yếu tố trên thì không được phép mua. Hàng hiệu, ai mua cũng được nhưng sẽ rất lãng phí nếu người mua không hiểu được giá trị thương hiệu vô hình của nó, không hiểu được tại sao nó đắt.

Đắt mà không đắt!

Mọi người cho rằng, hàng hiệu rất đắt. Điều đó hoàn toàn đúng. Nếu bị thuyết phục mua một món hàng nào đó, giá cả bình thường, thậm chí rẻ nữa, bạn đừng có tin đó là hàng hiệu xịn. Như trường hợp của anh bạn tôi. Anh khoe mới mua một chiếc đồng hồ Longines tại shop M trên đường Nguyễn Đình Chiểu giá chỉ 135USD. Nhìn bề ngoài, chiếc đồng hồ khá đẹp và hầu như hoàn hảo đối với những kẻ ngoại đạo của giới “hàng hiệu”. Chẳng trách các thượng đế muốn dùng hàng xịn mà không muốn đầu tư nhiều tiền vẫn mắc sai lầm.

Sau khi kiểm tra kỹ, tôi cho anh biết, anh đã mua nhầm hàng giả. Với chiếc này, ở Saigon Square chỉ bán với giá 20USD, còn chiếc Longines được bán ở Diamond plaza với giá không dưới 1.200 USD. Anh bạn tôi còn bán tín bán nghi, tôi liền chỉ cho anh thấy những lỗi sơ đẳng không thể tồn tại ở một chiếc đồng hồ hàng hiệu thật như độ vênh giữa các mối lắp, độ thô của các mặt dây và các vết xước trên bề mặt.

Nếu đi đôi giày Clarks, bạn sẽ không hề đau chân ngay từ lần mang đầu tiên, hay khó chịu trong mùa nóng! Chiếc áo thun hiệu Lacoste mua chính hãng, cái răng của hàng trăm con cá sấu thêu cũng sắc sảo như nhau! Tương tự như vậy, có người nói vui rằng trên mỗi chiếc bánh mỳ MacDonal, bạn có thể đếm được đúng 173 hạt vừng! Tức là độ chính xác của chúng hoàn hảo đến mức thật khó tin.

Đắt vì chất lượng

Hàng hiệu đắt có phải là do chất lượng? Điều đó chính xác. Chất lượng là yếu tố đầu tiên mà bất kì một nhà sản xuất hàng hiệu nào cũng đều hướng tới. Đối với hàng hiệu, chất lượng lại đại diện cho uy tín của thương hiệu. Độ bền của các sản phẩm hàng hiệu gấp 5 – 7 lần so với các sản phẩm cùng loại. Hầu hết các sản phẩm hiệu thường được sản xuất bởi các nguyên phụ liệu tốt nhất. Túi xách, dây lưng, giày, dép, áo da… thì toàn bằng da thật. Quần áo thời trang cũng sử dụng vải có chất lượng tốt nhất được nhập từ Anh, Ý… Chiếc áo Polo mua tại Mỹ, mặc hàng năm trời vẫn không bị biến dạng hay nhạt màu. Đồng hồ được sản xuất ở Thụy Sỹ. Mỹ phẩm hay nước hoa thì chẳng nơi nào tốt hơn Pháp.

Công nghệ sản xuất cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên một sản phẩm có chất lượng. Chỉ sai một chi tiết nhỏ, nhà sản xuất sẵn sàng cho vào máy chém không cho xuất xưởng. Cho nên khi cầm một sản phẩm, bạn chỉ cần thấy một lỗi sai nhỏ thì đừng có dại mà rước về. Hàng nhái đấy. Không nên mua sản phẩm mà bị thuyết phục với điệp khúc “hàng lỗi của công ty, được nhân viên tuôn ra, nên chỉ bán với mức giá bằng nửa giá trị trường”.

Có bao giờ bạn nhìn thấy một chiếc túi Dunhill với nếp gấp mép nổi cục chưa? Dunhill cũng giống như Louis Vuitton, Porsche Design, Bally, Aigner, Salvatore Ferragamo, Guy Laroche… đều mài mỏng những miếng da ở mép gấp, sau đó mới cho may, nên không dễ phát hiện ra vết khâu ở góc này có gì khác biệt. Một chiếc điện thoại Vertu, ô tô cán qua, vẫn bình yên vô sự, đồng hồ Edox ném vào tường, nảy ra như quả bóng, không để lại vết xước, áo da Esprit hơ trên lửa chỉ mềm thôi chứ không cháy. Tất cả những điều đó cũng đủ nói lên chất lượng của hàng hiệu.

Hàng hiệu đắt do giá trị thương hiệu

Giá trị thương hiệu của một sản phẩm vô hình và khó có thể định giá chính xác. Chẳng ai có thể trả lời Versace, Dolca & Gabbana hay Giorgio Armani giá bao nhiêu. Cũng chẳng ai có thể trả lời rõ ràng tại sao chiếc Mercedes hay BMW lại đắt hơn chiếc Flat hay Musso mặc dù chúng có cùng tính năng và giá trị sử dụng. Chính cái-đắt-hơn là giá trị thương hiệu.

Nhưng nếu nói giá trị thương hiệu hoàn toàn vô giá cũng không đúng. Giá trị thương hiệu, có thể được hiểu, bao gồm tất cả các chi phí để xây dựng thương hiệu. Tag Huer bỏ ra vài trăm ngàn đô hàng năm để năn nỉ Tiger Wood dùng miễn phí sản phẩm đồng hồ của mình. Cũng chính nhãn hiệu này bỏ ra hàng triệu đô để tài trợ cho các giải golf thế giới. Mobiado cũng từng bỏ ra cả chục triệu đô để tổ chức lễ ra mắt sản phẩm mới với thành phần khách mời toàn những tỉ phú.

Bạn có biết rằng nhà sản xuất Volkswagen đã phải bỏ ra hàng tỉ USD chỉ để thiên hạ biết đến một vòng tròn bên trong chữ V và W chồng lên nhau? Còn bao nhiêu khoản ngân sách khác, nhà sản xuất phải rút hầu bao để xây dựng hình ảnh nhãn hiệu, chỉ với mục đích duy nhất “muốn cả thế giới biết đến sản phẩm của mình”. Tất cả những chi phí đó, đều được tính vào giá thành sản phẩm, cho nên giá của một sản phẩm hiệu mới đắt như thế.

Chẳng đâu xa, ngay tại Việt Nam bạn cũng có thể thấy được giá trị thông qua vị trí cửa hàng của nhãn hiệu đó. Nếu một sản phẩm hàng hiệu được phân phối chính thức tại Việt Nam, vị trí cửa hàng được đặt tại khách sạn 5 sao, các trung tâm thương mại lớn như Diamond, Parkson (TP. Hồ Chí Minh) hay Vincom (Hà Nội), hoặc trên các trục đường chuyên bán hàng hiệu.

Bạn không thể nào mua được một chiếc túi hiệu Furla hay Longchamps tại siêu thị Maximart hay Big C. Không thể mua một bộ Shiseido Men tại chợ An Đông (thành phố Hồ Chí minh) hay chợ Đồng Xuân (Hà Nội). Hàng hiệu, phải được bày bán ở những vị trí xứng tầm, cạnh những bạn hiệu khác. Mỗi khi có sản phẩm mới, các đại gia này cũng tổ chức tiệc tùng ra mắt với sự tham gia của những khách mời nổi tiếng. Địa điểm tổ chức thường là Sheraton, Caravelle, Park Hyat, Sofitel, Legend… (TP. Hồ Chí Minh) hay Hilton, Sofitel Metropole… (Hà Nội).

Chỉ cần thấy thế cũng đủ hiểu tại sao hàng hiệu lại đắt. Nhưng cũng chẳng phải cứ sản phẩm nào có mặt bằng tốt, tổ chức tiệc 5 sao và bán với giá thật đắt cũng là hàng hiệu. Một anh thợ bạc bỏ ra rất nhiều tiền để xây một thương hiệu vàng Việt Nam với hy vọng 5 năm sau nó sẽ là một thương hiệu nổi tiếng thế giới sánh ngang với Bulgari. Mọi chuyện đâu phải đơn giản vậy. Kết quả là, người ta thấy “thương hiệu” này cứ “phú quý giật lùi” rồi biến mất trên thị trường!

Xây dựng một thương hiệu cao cấp, và để cho mọi người công nhận đó là hàng hiệu và sẵn sàng chi tiền ra mua, là điều hoàn toàn không dễ. Các nhà sản xuất không chỉ bỏ ra hàng trăm triệu đô cho những ý tưởng, chiến lược, kế hoạch hoàn hảo, mà họ còn mất hàng chục năm làm việc không mệt mỏi, cùng với niềm tin và tình yêu mãnh liệt với sản phẩm của mình thì thương hiệu đó mới có thể thành công và thật sự trở thành hàng hiệu.

24H.COM.VN (theo Phong cách Việt)

Đăng trong Thời trang | Tagged: , | Leave a Comment »